Bài học cùng chủ đề
- Tri thức Ngữ văn
- Đọc: Nghệ thuật băm thịt gà
- Đọc: Bước vào đời
- Thực hành tiếng Việt: Ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật
- Viết bài văn nghị luận bàn về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (Cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội)
- Thực hành đọc: Vĩ tuyến 17 (Trích Gánh gánh... gồng gồng... - Xuân Phượng)
- Phiếu bài tập cuối chủ đề 7
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Phiếu bài tập cuối chủ đề 7 SVIP
Yêu cầu đăng nhập!
Bạn chưa đăng nhập. Hãy đăng nhập để làm bài thi tại đây!
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu bên dưới.
BỐN ĐỒNG NGỬA SẤP
Ông Nguyễn Đình Mầu là một tay cự phách trong nghề buôn gỗ. Cái két lù lù như cái tủ áo của ông, lúc thu tiền bán gỗ, ních chặt những giấy bạc, thường khi vì đem tiền gửi nhà băng mà vơi hẳn. [...]
Đêm hôm qua, trong lúc cao hứng, ông đã thua một canh xóc đĩa tới đúng một nghìn. Một nghìn tiền mặt với ba trăm tiền "nước bọt" (nợ miệng) nữa. Tiền "nước bọt", ông tạm vay của một ông nghị ông mới được hân hạnh quen biết, để đặt một cái chắn cuối cùng rồi rũ áo đứng lên.
Kết giao với người như thế, ông cầm chắc sẽ có lợi cho sự buôn bán sau này...
Một nghìn với ba trăm, một số tiền ông vẫn cho là "cò con", lẽ nào khiến ông đến phải... nghĩ ngợi? Không! Ông chẳng nghĩ ngợi gì vì số tiền ấy, ông nghĩ là nghĩ đến lời quả quyết của một người bạn thân nói với ông sau khi hỏi thăm đến chuyện thua bạc: Thôi chết! Bọn bịp nó thịt bác rồi.
Người bạn ấy lại cam đoan rằng bịp chính là cái anh chàng tự xưng là ông nghị. Chỉ một câu này cũng đủ khiến ông dựng đứng tóc gáy lên, như đang lần bước trong khoảng tối tăm mà giẫm ngay phải một con chuột chết vậy. […]
Chưa biết quyết nên ngờ hay tin, ông còn hoài nghi, nghĩ ngợi...
Đến đây, người vú ẵm cậu con út của ông bước vào. Cậu bé, hai má bánh đúc lại lúm đồng tiền, tuổi chưa đầy lên hai, cứ nhoài người ra, tay mũm mĩm giơ đến phía ông, miệng ấp úng gọi: "Âu! Âu!". Chẳng như mọi lần khác, thấy con theo mình thì ông xốc ngay vào lòng để hôn con cho đến phát khóc, phát thét, lần này ông quắc mắt quát người vú: "Ẵm nó ra ngoài kia!". Rồi ông lại tự gắt với mình: Thì nghĩ ngợi làm cóc gì? Chốc nữa người ta đến đây đòi tiền, mình sẽ lựa lời đưa đẩy dò xét ý tứ xem sao rồi... nếu quả như lời... thì... cho một vố. Phải, nghìn ba trăm bạc tuy không là bao nhưng là của bị mất, không vì đỏ đen mà lại vì bịp, còn chi đáng tức cho bằng?
Cho một vố, tuy định như thế rồi nhưng nói cho cùng, chính ông, ông cũng chưa hiểu rõ rằng "vố" là cái sự gì ông định thi thố đây!...
Thôi đi, ông Mầu ơi, ông không phải doạ! Đúng như lời hẹn, cái người ông đang nóng lòng chờ đợi để mong lột hẳn chiếc mặt nạ ra cho rõ đen, rõ trắng, đã đứng ngoài phòng giấy ông đây kia.
− Bẩm lạy quan lớn.
− Không dám ạ... Lạy quan lớn, rước quan lớn ngồi.
Ông Mầu vội vàng đứng dậy, bỏ chiếc ghế chao, quay vào phía trong:
− Anh Ba đâu? Đặt nước chè!
Ấy đấy trước mặt người khách trông rất bệ vệ, sự hấp tấp giữ nghi lễ của ông tỏ răng chưa chi ông đã sắp bại trận. Phân ngôi chủ khách đâu đấy rồi, ông Mầu nhìn chòng chọc khách một cách có ý tứ, như muốn nói: "Ông rõ mày rồi. Ông sắp giật cái mặt nạ ở mặt mày xuống đây.". Còn khách thì vẫn thản nhiên như không để ý đến cử chỉ của ông chút nào.
Lúc này, giữa hai người có luồng không khí im lặng rất khó chịu... Vì cả hai bên có lẽ cùng đoán được rằng sẽ có sự không hay xảy ra.
− Quan lớn đến lấy số tiền hôm qua tôi vay?
− Bẩm vâng ạ.
Ông nghị đáp thế rồi đưa mắt nhìn khắp gian phòng. Thế là cả hai lại ngồi im một lúc lâu, người tìm câu nhập đề, kẻ tìm câu ứng đối. Cuộc "chiến tranh tĩnh toạ" này nếu không được đứa đầy tớ bưng ra khay nước chè thì chưa biết bao giờ mới có hồi trống thu quân. Sau cùng ông Mầu đánh bạo:
− Canh bạc hôm qua, có người đã nói rõ cái lẽ tại sao tôi thua rồi; ngài dạy hộ: bây giờ tôi nên xử trí với ngài ra sao?
Cái vẻ ngạc nhiên ngây thơ của ông nghị nó hiện ra sau câu nói đường đột lạ tai kia, hầu như muốn gọi quỷ thần hai vai soi xét.
– Thưa ngài, ngài nói gì, tôi không hiểu, ngài nói lại cho nghe?
Trước cái thái độ rất bình tĩnh ấy, ông Mầu cũng hơi chột dạ, đã tưởng mình lầm. Nhưng ông cũng liều một phen mà quả quyết:
− Thôi đi, ngài đừng giả ngây, giả dại nữa. Chính tôi đã bị ngài bịp, tôi rõ mọi khoé của ngài rồi.
− Tôi... bịp ngài à? Lấy gì làm bằng cớ?
– Tiếc rằng lúc ngài hành động tôi lại không có sẵn cái máy quay phim!
Lời doạ của ông Mầu thế mà có công hiệu. Ông nghị chẳng còn đóng nổi cái vai kịch ngạc nhiên nữa, mà vẻ bẽn lẽn hiện ngay trên mặt. Thấy thế công của mình có phần thắng, ông Mầu phóng thêm một mũi thương nữa:
− Chỗ người lớn với nhau, ông cứ nhận đi là phải. Ông làm nghề bạc bịp thì cũng như tôi làm nghề buôn gỗ chứ có khác gì. Ông có gan nhận, tôi xin phục là người quân tử, nếu ông chối thì chối cũng chẳng được nào mà lại tỏ mình là tiểu nhân.
Biết rằng việc mình làm đã bị người tố giác, lại muốn làm "quân tử" nữa, ông nghị trơ trẽn mà rằng: "Vâng, quả có thế.".
Nghe câu này, ông Mầu sung sướng như một vị quan toà đã khám phá nổi một cái nghi án, cười mà hỏi đùa ông "nghị bịp":
− Việc đã vỡ rồi, thế thì bây giờ ông đến đòi tiền tôi hay để tôi đòi tiền ông?
− Tôi đã coi ngài là người quân tử mà nhận việc tôi làm một cách quân tử như thế, tưởng ngài chẳng nỡ nào dùng cách... tiểu nhân đối phó với tôi. Nếu tôi cứ nhất mực chối cãi, không có bằng cớ, thì ngài làm gì? Ngài vừa bảo rằng cái bịp của tôi cũng là một nghề cũng như đi buôn, được ăn, thua chịu chứ.
− Thôi. Ngài có gan nhận, thế là quân tử, đã đành. Mà tôi vẫn giữ thái độ quân tử, nghĩa là không đòi lại số tiền đã thua. Thôi, xí xoá...
Người đời ai đã làm việc bậy, sau khi bị lột mặt nạ, thường có thói lại làm già cho được đỡ trợ bằng cách thuyết đến nhưng lí luận cao xa, viển vông hay là bỏ đạo đức nguỵ biện. Ông nghị này cũng có thói ấy. Bị người đánh mình trúng phải chỗ yếu, ông nghị cũng tìm cách trả miếng vào giữa chỗ yếu kẻ đã quật đổ mình.
− Tôi vẫn chưa chịu... Được rồi. Ngài trả nữa tôi cũng ơn mà không tôi cũng phải chịu thật nhưng đó là đối với người khác tôi mới thế, chứ đối với ngài quyết không!
− Làm sao?
− Tôi đã có cách! Nhược điểm kia, tôi đã nắm được rồi. Ngày tuy là người có máu chơi bời nhưng là người con chí hiếu. Ngài nên biết: tôi sẽ mách cụ bá nhà... Thật đấy!
− Thì ngài được lợi gì?
− Chẳng lợi gì cả. Nhưng để cụ biết rằng ngài là người con hư. Thế thôi.
Ôi cái tâm lí người đời sao mà nó kì lạ!
Ông Mầu đem mồi quân tử ra khiến ông nghị phải nhận mình là bịp thì ông nghị lại lấy mồi chí hiếu bắt ông Mầu đã quýnh lại quýnh thêm. Hai con cáo già xoay nhau cùng bằng luân thường, đạo lí cả. Thì ra dù là bịp hay là lương thiện, ta vẫn bị cái luân thường, cái đạo lí nó thuốc ta, hoặc là bịp ta! Ta giống mọi người, mọi người cũng giống ông Mầu, lại đến lượt ông Mầu giống ta, chung quy nhất loạt đều để cho cái luân lí, cái đạo đức nó vẫn bịp mình mà không biết!
Cho nên sau khi nghĩ ngợi hồi lâu, ông Mầu đứng lên ra... mở két! Sự không ngờ là ông Mầu lại trao thêm tiền cho người đã bịp mình một cách cảm động nữa, và thêm:
− Ba trăm bạc là quý nhưng gặp một người... tri kỉ còn quý hơn. Tôi chẳng chịu mang tiếng tiểu nhân với ngài.
Ông nghị cầm lấy tiền:
− Dù sao tôi cũng biết phân biệt những ai tiểu nhân, những ai quân tử ở đời. Chúng ta còn nhiều phen gặp gỡ.
Rồi ông đẩy ghế, đứng lên.
Nhưng ông Mầu giữ lấy vạt áo ông nghị, cười mà rằng:
− Khoan đã!... Đệ đã được rõ cái tài của huynh đâu!
Ông nghị cũng bật cười, lại ngồi xuống. Hôm nay, ông Mầu mới được dịp đặc biệt rõ rằng bốn đồng tiền giấy tuy là những vật vô tri vô giác thật, nhưng ai để công luyện tập công có thể sai khiến nó cứ lộn tung trong cái bát cái đĩa, rồi úp sấp hay lật ngửa theo như ý muốn của mình...
(Trích chương V, Cạm bẫy người, NXB Văn học, Vũ Trọng Phụng)
Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Bốn đồng ngửa sấp" là
Văn bản "Bốn đồng ngửa sấp" thuộc thể loại nào dưới đây?
Văn bản "Bốn đồng ngửa sấp" sử dụng ngôi kể nào dưới đây?
Ông Mầu và ông nghị quen biết nhau thông qua tình huống nào dưới đây?
Sắp xếp các nội dung dưới đây theo đúng trình tự của văn bản "Bốn đồng ngửa sấp".
- Ông nghị dùng đòn tâm lí doạ "mách cụ bá" khiến ông Mầu hoảng sợ, lập tức đổi thái độ, mở két trả thêm tiền và nhận làm tri kỉ.
- Ông Mầu bực dọc và chuẩn bị tâm thế để "lột mặt nạ", định cho kẻ lừa bịp "một vố" khi hắn đến đòi tiền.
- Cuộc đối thoại căng thẳng diễn ra tại phòng giấy, ông Mầu dùng lí lẽ "quân tử" buộc ông nghị phải thừa nhận mình là kẻ bạc bịp.
- Ông Mầu được một người bạn thân cảnh báo rằng ông đã bị "bọn bịp nó thịt", mà kẻ chủ mưu chính là ông nghị bệ vệ kia.
Văn bản "Bốn đồng ngửa sấp" phản ánh về vấn đề nào dưới đây?
Số tiền mà ông Mầu đã thua trong canh bạc là bao nhiêu?
Phản ứng của ông Mầu đối với đứa con út khi nó đòi theo cha cho thấy điều gì về tâm trạng của ông lúc đó?
Cụm từ "chiến tranh tĩnh toạ" trong văn bản dùng để chỉ điều gì dưới đây?
"Vũ khí" cuối cùng nào dưới đây được ông nghị sử dụng để buộc ông Mầu phải trả nốt tiền?
Nhận xét nào dưới đây là đúng về ý nghĩa của chi tiết ông Mầu mở két đưa thêm tiền và gọi ông nghị là tri kỉ ở cuối văn bản?
Hình ảnh chiếc két sắt "lù lù như cái tủ áo" thể hiện điều gì về ông Mầu?
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Bản chất mối quan hệ giữa ông Mầu và ông nghị thực chất là một trò chơi đầy toan tính, trong đó cả hai đều khoác lên mình những "mặt nạ" đạo đức để động cơ vụ lợi. Ông Mầu nhân danh "quân tử", còn ông nghị lợi dụng "chí hiếu" nhằm khống chế đối phương. Những giá trị luân lí bị biến thành công cụ lừa lọc, phơi bày sự giả dối và trong các mối quan hệ xã hội.
Cách tác giả ví von ông Mầu cảm thấy như "giẫm ngay phải một con chuột chết" khi biết mình bị bịp có tác dụng gì?
Điểm tương đồng về bản chất của ông Mầu và ông nghị
"Bốn đồng ngửa sấp" không chỉ là tên một trò bạc, nó còn mang ý nghĩa biểu tượng gì cho xã hội trong tác phẩm?
Qua cảnh ông Mầu đưa thêm tiền cho kẻ đã bịp mình, Vũ Trọng Phụng muốn phê phán điều gì dưới đây?
Ý nào dưới đây là đúng về điều đáng sợ nhất ở nhân vật ông nghị?
Ý nào dưới đây là đúng về thông điệp có thể rút ra từ văn bản "Bốn đồng ngửa sấp"?
Nhận xét nào dưới đây là đúng về thái độ của tác giả Vũ Trọng Phụng trong văn bản "Bốn đồng ngửa sấp"?
Nhận xét nào dưới đây là đúng về ý nghĩa của chi tiết "Ta giống mọi người, mọi người cũng giống ông Mầu"?
Nhận xét nào dưới đây là đúng về bản chất của nhân vật ông Mầu?
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Ở cuối đoạn trích, cách xưng hô giữa ông Mầu và ông nghị chuyển từ sự dè chừng, sang "huynh – đệ", thể hiện một quan hệ tưởng như thân tình, tri kỉ. Sự thay đổi ấy không phải của tình nghĩa mà phản ánh sự tha hoá đạo đức sâu sắc: Kẻ bịp và người bị bịp đã đứng chung một "chiến tuyến", cùng chia sẻ sự sành sỏi, và lừa lọc. Qua đó, tác giả phơi bày bản chất giả tạo của những quan hệ được trên lợi ích và đạo đức hình thức.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
Những trường hợp nào dưới đây phù hợp để sử dụng ngôn ngữ trang trọng? (Chọn 2 đáp án)
Ý nào dưới đây là đúng về hạn chế của việc sử dụng ngôn ngữ trang trọng?
Ý nào dưới đây là đúng về đặc điểm của của ngôn ngữ thân mật?
Ngữ cảnh nào dưới đây không đòi hòi phải sử dụng ngôn ngữ trung tính?
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan tới tuổi trẻ (cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội) là kiểu bài dùng lí lẽ và để bàn luận, làm rõ và cách ứng xử trong mối quan hệ gia đình, xã hội; từ đó, thu hút sự quan tâm, những suy nghĩ về bổn phận, tác động đến việc hình thành nhân cách của giới trẻ.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
Ý nào dưới đây là không đúng về yêu cầu cần đạt của bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (cách ứng xử trong các mối quan hệ gia đình, xã hội)?
Sắp xếp các ý dưới đây theo trình tự hợp lí để tạo nên dàn ý hoàn chỉnh cho bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ.
- Giới thiệu vấn đề cần bàn luận.
- Trình bày quan điểm, đề xuất cách ứng xử đúng đắn trước vấn đề.
- Nêu ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề.
- Khẳng định tầm quan trọng của vấn đề.
- Phản biện một số quan điểm trái chiều.
- Sử dụng lí lẽ và bằng chứng để chứng minh cho luận điểm.