Bài học cùng chủ đề
- Tri thức ngữ văn
- Đọc: Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
- Đọc: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
- Đọc kết nối chủ điểm: Vịnh Tản Viên sơn
- Thực hành tiếng Việt: Lỗi logic
- Đọc mở rộng theo thể loại: Trên đỉnh non Tản
- Viết: Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện/kí hoặc kịch
- Phiếu bài tập cuối chủ đề 3
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Phiếu bài tập cuối chủ đề 3 SVIP
Yêu cầu đăng nhập!
Bạn chưa đăng nhập. Hãy đăng nhập để làm bài thi tại đây!
Đọc văn bản và thực hiện yêu cầu.
CHUYỆN CÁI CHÙA HOANG Ở HUYỆN ĐÔNG TRIỀU
(Trích)
Đời nhà Trần, tục tin thần quỷ, thần từ, phật tử chẳng đâu là không có. Các chùa như chùa Hoàng Giang, chùa Đồng Cổ, chùa An Sinh, chùa An Tử, chùa Phổ Minh, quán Ngọc Thanh dựng lên nhan nhản khắp nơi; những người cắt tóc làm tăng làm ni, nhiều gần bằng nửa số dân thường. Nhất là vùng huyện Đông Triều, sự sùng thượng lại càng quá lắm. Chùa chiền dựng lên, làng lớn có đến hơn mười nơi, làng nhỏ cũng chừng năm, sáu. Bao ngoài bằng rào luỹ, tô trong bằng vàng son, phàm người đau ốm, chỉ tin theo ở sự hư vô; gặp các tuần tiết thì đàn tràng cúng vái rất là rộn rịp. Thần, phật xem chừng cũng ứng giáng, nên cầu gì được nấy, linh ứng lạ thường.
Bởi vậy người dân càng kính tin, không dám ngạo mạn. Song đến đời vua Giản Định nhà Trần, binh lửa liên miên, nhiều nơi bị đốt; số chùa chiền còn lại mười không được một mà cái số còn lại ấy, cũng mưa bay gió chuyển, đổ ngã xiêu nghiêng, tiêu điều đứng rũ ở giữa áng cỏ hoang bụi rậm. Sau khi quân Ngô lui, dân trở về phục nghiệp, có viên quan là Văn Tư Lập đến trị huyện ấy, thấy những cảnh hoang tàn đổ nát bèn róng rả dân đinh các xã, đánh tranh ken nứa mà sửa chữa lại ít nhiều. Ngồi ở huyện ấy được một năm, thấy dân quanh huyện khổ về cái nạn trộm cắp, từ gà, lợn, ngỗng, ngan đến cá trong ao, quả trong vườn, phàm cái gì có thể ăn được đều bị mất hết. Tư Lập than rằng:
− Ta ở vào địa vị một viên ấp tể, không có cái minh để xét ra kẻ gian, cái cứng để chế phục kẻ ác, vì nhân nhu mà hỏng việc, chính là cái lỗi tự ta.
Song Tư Lập cho là những đám trộm cắp vặt ấy, cũng không đến nỗi đáng lo ngại lắm, nên chỉ sức các thôn dân, đêm đêm phải canh phòng cẩn mật. Trong khoảng một tuần, tuy canh phòng chẳng thấy gì cả, nhưng những việc trộm cắp vặt cũng vẫn như trước. Lâu dần càng không thấy chúng kiêng sợ gì, đến nỗi lại vào bếp để khoắng hũ rượu của người ta, vào buồng ghẹo vợ con người ta, khi mọi người đổ đến vây bắt, thì kẻ gian đã biến đi đằng nào mất, chẳng thấy gì cả. Tư Lập cười mà nói:
− Té ra lâu nay vẫn ngờ oan cho lũ kẻ trộm, kỳ thực đó là loài ma quỷ, hưng yêu tác quái đó mà thôi. Những sự quấy rối bấy nay, đều tự vật này cả.
Sau đấy đi mời khắp các thầy phù thuỷ cao tay, xin bùa yểm trấn, làm thuyền bè mã mà tống tiễn. Song càng bùa bèn trừ yểm, sự quấy nhiễu càng tệ hơn trước. Tư Lập cả sợ, họp người dân thôn lại bàn rằng:
− Các người khi trước vẫn thờ Phật rất kính cẩn, lâu nay vì việc binh hoả mà đèn hương lễ bái không chăm, cho nên yêu nghiệt hoành hành mà Phật không cứu giúp. Nay sao chẳng đến chùa kêu cầu với Phật, tưởng cũng là một cách quyền nghi may có thể giúp ích cho mình.
Mọi người bèn đi đốt hương lễ bái ở chùa chiền khấn rằng: "Lũ chúng sinh này kính thờ Trời Phật, quy y đã lâu, hết lòng trông cậy ở Phật pháp. Nay ma quỷ nổi lên, quấy nhiễu dân chúng, hoạ hại cả đến loài lục súc, vậy mà Phật ngồi nhìn im lặng, chẳng cũng từ bi quá lắm ư? Cúi xin mở lượng thương xót, ra uy trừng phạt, khiến thần, người chẳng lẫn, dân vật đều yên, hết thảy chúng sinh, đều được đội ơn nhiều lắm. Song loạn lạc vừa yên, sinh kế chưa khôi phục được, tấc gỗ mảnh ngói khó lòng xoay xở vào đâu. Đợi khi làm ăn giàu có sẽ lại xin sửa lại chùa chiền đền công đức ấy.".
(Lược một đoạn: Trộm cắp hoành hành, Tư Lập tìm Vương tiên sinh bói quẻ và được bảo sẽ gặp người "cưỡi ngựa, mặc áo vải săn" có thể trừ nạn. Hôm sau, dân làng gặp một người thợ săn đúng như lời quẻ, liền quỳ lạy cầu cứu, nhưng người ấy chỉ cười, nói mình chỉ đi săn thú, khuyên nhủ sự mê tín, tin mù quáng của dân làng. Tư Lập tưởng người thợ săn là pháp sư giỏi nên cố mời về huyện, cung kính tiếp đãi như thần. Người thợ săn biết mình bị hiểu lầm, xấu hổ vì không có tài trừ quỷ nên quyết định tìm cách bỏ đi.)
Hôm ấy ước chừng nửa đêm, thừa lúc mọi người đã ngủ say, người ấy bèn rón rén ra khỏi huyện lỵ. Khi đến phía Tây cái cầu ván bấy giờ trời tối lờ mờ, trăng khuya chưa mọc, thấy có người hình thể to lớn, hớn hở từ dưới đồng đi lên, người ấy bèn lẻn vào chỗ khuất, ngồi rình để xem họ làm trò gì. Một lát, thấy họ thò tay khoắng xuống một cái ao rồi bất cứ vớ được cá lớn cá nhỏ, đều bỏ vào mồm nhai nuốt hết, lại nhìn nhau mà cười mà nói:
− Những con cá con ăn ngon lắm nên ăn dè dặt mới thấy thú, há chẳng hơn những thức hương hoa nhạt nhẽo họ thường dâng cúng chúng mình ư? Đáng tiếc là đến bây giờ, chúng mình mới được biết những vị ngon ấy.
Một người cười mà nói:
− Chúng mình thật to đầu mà dại, bấy nay bị người đời chúng nó lừa dối; ai lại đem cái oản, một vài lẻ gạo để lấp cái bụng nặng nghìn cây mà đi giữ của cho chúng nó bao giờ. Nếu không có những buổi như buổi hôm nay mà cứ trường chay mãi như trước thì thật là một đời sống uổng.
Một người nói:
− Tôi xưa nay vẫn ăn đồ mặn không phải ăn chay tịnh như các ông. Nhưng hiện giờ dân tình nghèo kiết, chúng nó chẳng có gì để cúng vái mình. Bụng đói miệng thèm, không biết mùi thịt là cái gì đã trải qua một thời gian lâu lắm, chẳng khác chi đức Khổng Tử ở nước Tề ba tháng không được đụng đến miếng thịt. Song đêm nay, trời rét, nước lạnh, khó lòng ở lâu chỗ này được, chi bằng lên quách vườn mía mà bắt chước Hổ đầu tướng quân ngày xưa.
Đoạn rồi họ dắt nhau đi lên, vào vườn mía, nhổ trộm mà tước mà hít. Người kia đang ngồi núp một chỗ, liền dương cung lắp tên, thình lình bắn ra, trúng luôn ngay được hai người. Bọn gian kêu ấm ớ mấy tiếng rồi ồ chạy cả, chừng độ mấy chục bước đều mờ khuất hết. Song lúc đó còn thấy có tiếng mắng nhau:
− Đã bảo ngày giờ không tốt thì đừng nên đi, không nghe lời ta, bây giờ mới biết.
Người kia kêu réo ầm ĩ lên, dân làng quanh đấy giật mình tỉnh dậy, cùng đốt đèn thắp đuốc chia nhau mỗi người đi đuổi một ngả. Họ soi thấy dấu máu vấy trên mặt đất, bèn theo dấu máu ấy đi về phía Tây. Chừng hơn nửa dặm đến một cái chùa hoang, vào thấy hai pho tượng Hộ pháp xiêu vẹo trong chùa, trên lưng mỗi tượng đều có một phát tên cắm vào sâu lắm. Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, cho là một sự lạ xưa nay chưa có bao giờ. Họ liền hẩy đổ hai pho tượng. Trong lúc ấy còn nghe có tiếng nói rằng:
− Vẫn tưởng kiếm cho no bụng, ai ngờ phải đến nát thân. Nhưng bầy ra mưu mẹo là tự lão thuỷ thần kia. Hắn là chủ mưu mà được thoát nạn còn chúng ta theo hắn mà phải chịu vạ, thật cũng đáng phàn nàn lắm.
Đó rồi họ sai người đến miếu Thuỷ thần, thấy pho tượng thần đắp bằng đất, bỗng biến sắc, mặt tái đi như chàm đổ, mấy cái vẩy cá còn dính lèm nhèm trên mép, lại phá huỷ luôn cả pho tượng ấy.
Quan huyện Văn Tư Lập dốc hết hòm rương để trả ơn, người kia chở nặng mà về. Từ đấy yêu tà tuyệt tịch không còn thấy bóng tăm đâu nữa.
(In trong Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, NXB Văn hoá, 1962)
Văn bản "Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều" thuộc thể loại nào dưới đây?
Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều" là
Văn bản sử dụng ngôi kể nào dưới đây?
Sắp xếp các nội dung dưới đây theo đúng trình tự của văn bản "Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều".
- Người dân Đông Triều vốn sùng bái thần Phật, chùa chiền mọc lên khắp nơi.
- Người thợ săn bắn trúng hai pho tượng Hộ pháp và dân làng phát hiện ra sự thật, phá huỷ pho tượng Thuỷ thần.
- Người thợ săn lẻn ra khỏi huyện lỵ và vô tình chứng kiến "kẻ trộm" ăn cá, bẻ mía.
- Nghe theo Vương tiên sinh, quan huyện mời người thợ săn trợ giúp nhưng anh từ chối, khuyên họ bớt mê tín.
- Sau nạn binh lửa, chùa chiền đổ nát và trong vùng liên tiếp xảy ra nạn trộm cắp.
- Văn Tư Lập và dân làng cho rằng trộm cắp là do ma quỷ, mời thầy phù thuỷ và cầu khấn Phật nhưng không hiệu quả.
Sự sùng bái thần phật ở huyện Đông Triều được thể hiện qua chi tiết nào dưới đây?
Sau khi quân Ngô lui, huyện Đông Triều gặp phải vấn đề gì khiến Văn Tư Lập lo lắng?
Sau quá trình theo dõi, Văn Tư Lập nhận ra nguyên nhân trộm cắp trong huyện là gì?
Xác định các chi tiết kì ảo trong văn bản "Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều". (Chọn 3 đáp án)
Những ý nào dưới đây là đúng về tác dụng của chi tiết kì ảo trong văn bản "Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều"? (Chọn 2 đáp án)
Vương tiên sinh đã bói quẻ và hướng dẫn Tư Lập tìm người có đặc điểm như thế nào?
Khi bị ma quỷ quấy phá, dân làng đã cầu khấn Phật những điều gì? (Chọn 2 đáp án)
Ý nào dưới đây là đúng về thái độ của dân làng với Trời Phật trước và sau khi bị ma quỷ quấy phá?
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Sự thay đổi thái độ của dân làng với Trời Phật cho thấy đức tin của họ vừa , vừa mang tính vụ lợi và mù quáng. Họ tin theo thần Phật chỉ để cầu phúc, cầu lợi cho bản thân, chứ không xuất phát từ lòng hay hiểu biết đúng đắn. Khi gặp nạn mà không được phù hộ, họ lập tức oán trách, than phiền. Điều đó phản ánh sự , khủng hoảng tinh thần của con người trong khó khăn.
Lời thoại của người thợ săn khi dân làng quỳ lạy cầu cứu: "Ta chỉ đi săn thú mà thôi, không có tài phép gì cả. Các ngươi vì tin mù quáng mà sinh ra hoang tưởng đó thôi." cho thấy điều gì về nhân vật này?
Cuộc trò chuyện của những "kẻ trộm" khi ăn cá, chê "hương hoa nhạt nhẽo" và tiếc "một đời sống uổng" khi ăn chay thể hiện điều gì?
Khi phát hiện ra "kẻ trộm" chính là các pho tượng Hộ pháp ở miếu Thủy thần, dân làng và Văn Tư Lập đã có hành động gì?
Hành động phá huỷ hai pho tượng ở miếu Thuỷ thần của người dân có ý nghĩa gì?
Sự xuất hiện của người thợ săn bình phàm và chính anh ta phát hiện "kẻ trộm" thể hiện điều gì?
Qua đoạn trích, Nguyễn Dữ thể hiện thái độ gì đối với vấn đề mê tín dị đoan?
Ý nào dưới đây là đúng về thông điệp của văn bản "Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều"?
Ý nào dưới đây là không đúng về đặc sắc nghệ thuật của văn bản "Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều"?
Xác định những lỗi logic thường gặp. (Chọn 3 đáp án)
Câu văn "Cô ấy học rất giỏi nhưng luôn được thầy cô khen ngợi." mắc lỗi logic nào dưới đây?
Câu văn "Anh ta thích bóng đá và Cristiano Rolnaldo." mắc lỗi logic nào dưới đây?
Câu văn "Cô ấy đi ngủ rồi đánh răng và thay quần áo." mắc lỗi logic nào dưới đây?
Nối các câu văn với các lỗi logic tương ứng.
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện, kí hoặc kịch là dạng nghị luận sử dụng lí lẽ và dẫn chứng nhằm làm những nét và khác nhau về nội dung, cũng như giá trị tư tưởng giữa hai tác phẩm thuộc các thể loại này.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
Sắp xếp các ý dưới đây theo trình tự các bước để viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện, kí hoặc kịch.
- Tìm hiểu đề, xác định yêu cầu nghị luận, phạm vi so sánh và hướng đánh giá.
- Đọc, phân tích hai tác phẩm để nắm nội dung, nghệ thuật, giá trị tư tưởng.
- Đọc lại, chỉnh sửa và hoàn thiện bài viết.
- Lập dàn ý, xác định các luận điểm, lí lẽ, bằng chứng cho bài viết.
- Viết bài hoàn chỉnh, triển khai luận điểm và sử dụng dẫn chứng cụ thể.
Nối để hoàn thành dàn ý cho bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện / kí hoặc kịch.
Ý nào dưới đây là không đúng về mục đích của viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện, kí hoặc kịch?