Bài học liên quan
Phần 1. Đọc hiểu (4,0 điểm)
(1 câu)Đọc văn bản sau:
(1) Nếu bạn kiếm tiền và gánh vác trách nhiệm về cuộc sống của bản thân và gia đình, bạn sẽ thấy thiết tha với công việc và có động lực làm việc tốt hơn. Nhưng nếu như bị giam hãm trong suy nghĩ phải kiếm thật nhiều tiền, chúng ta sẽ trở thành tù nhân của công việc. Điều thực sự không phải là thu nhập nhiều hay ít mà là niềm vui của sự trưởng thành và tình yêu trong công việc. Chính vì thế mà nhiều tấm gương thành công đã nói rằng, họ làm nên sự nghiệp không phải vì họ lấy tiền làm mục tiêu mà chính họ lấy sự trưởng thành của bản thân làm đích đến.
(2) Công việc là bản chất và căn tính của chúng ta. Công việc ta đang làm cho biết ta là ai. Như vậy, đem giá trị tồn tại của bản thân quy đổi sang đồng tiền thuần tuý, chẳng phải chính hành vi này mới là xúc phạm sao? Steve Jobs đã nói, bạn hãy tìm công việc mà mình thực sự yêu thích. Nhưng nếu như không dễ gì tìm được, hoặc ngay lúc này bạn chưa thể bắt tay vào công việc đó thì hãy không ngừng rèn luyện bản thân để một ngày nào đó có thể được làm công việc mà mình yêu thích. Ngay từ bây giờ, hãy cứ chăm chỉ học hỏi, học hỏi từ chính công việc hiện tại, cho dù những gì bạn đang làm có bị coi là tầm thường đến đâu chăng nữa.
(3) Vấn đề là ở chỗ, đa số các bạn trẻ thường lấy bạn đồng lứa giỏi giang nhất − thường được gọi là "con nhà người ta" để làm thước đo. "Người ta thì đã tiến xa, còn mình sao vẫn thế này?", họ tự dằn vặt mình như thế. Họ bồn chồn, sốt ruột, thay vì bình tĩnh, cố gắng phấn đấu, họ lại vội vàng bắt chước. Nhưng mỗi nghề nghiệp, mỗi cuộc đời đều có những thời điểm bung nở, khoe sắc của riêng mình. Nôn nóng và bắt chước chỉ làm cho thời điểm đó đến chậm hơn. Cần phải xác định rõ hình ảnh tương lai của bản thân, và cả một chút cố chấp để có thể vững vàng, kiên định từng bước tiến đến mục tiêu. Cốt lõi không phải là so sánh với người khác mà là tập trung vào công việc, tương lai và ước mơ của bản thân. Mỗi khi ghen tị với người khác, hãy nhớ về câu nói của Oscar Wilde: "Hãy là chính mình, còn những người khác thì đã là chính họ rồi".
(Theo Trưởng thành sau ngàn lần tranh đấu, Rando Kim, NXB Hà Nội 2016, tr.131 − 132)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. (0,5 điểm) Vấn đề được bàn luận trong văn bản trên là gì?
Câu 2. (0,5 điểm) Theo tác giả, vì sao các bạn trẻ không nên lấy người khác làm thước đo cho mình?
Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng trong câu văn sau: "Nhưng mỗi nghề nghiệp, mỗi cuộc đời đều có những thời điểm bung nở, khoe sắc của riêng mình.".
Câu 4. (1,0 điểm) Anh/ chị hãy phân tích tác dụng của việc trích dẫn trực tiếp câu nói của người nổi tiếng trong văn bản.
Câu 5. (1,0 điểm) Từ vấn đề được triển khai trong văn bản trên, anh/ chị rút ra cho mình bài học gì? Vì sao? (Trình bày ngắn gọn từ 5 – 7 dòng)
Phần 2. Viết (6,0 điểm)
(2 câu)Từ nội dung của văn bản ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa của việc xác định mục tiêu, lí tưởng sống đúng đắn đối với người trẻ.
Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh hình tượng người phụ nữ trong hai đoạn trích dưới đây.
Đoạn trích 1:
NHÀ MẸ LÊ
[Lược phần đầu: Bác Lê là một người đàn bà nhà quê thấp bé, có đến mười một người con. Gia đình bác chuyển đến phố chợ sinh sống cùng với bảy, tám gia đình ngụ cư nghèo khổ khác.]
Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó.
[Lược phần cuối: Cuộc sống ngày một đói kém, bác Lê đánh bạo đến nhà ông Bá xin gạo nuôi con nhưng không may bị chó cắn. Không lâu sau đó, bác Lê lên cơn mê sảng và qua đời.]
(Trích Nhà mẹ Lê(1), Gió lạnh đầu mùa, NXB Văn học, 2016, tr. 14 – 15)
Đoạn trích 2:
MẸ VẮNG NHÀ
[Lược phần đầu: Con Bé leo lên ngọn dừa, nhòm ra xa và lắng tai chờ đợi tiếng súng trường của má cùng các cô du kích.]
Ðêm hôm kia má ghé về nhà một lần. Nước mưa đọng dưới cằm má như những giọt mồ hôi lúc má đứng trên rẫy khoai. Má ôm lấy thằng em nhỏ, tấm choàng của má đụng vào mặt con Bé mát lạnh. Thằng em thiu thiu ngủ, má lật đật mở hầm, lấy đạn nhét đầy thắt lưng và bụng súng, rồi lại đi. Trước khi ra sân, má vuốt tóc con Bé, dặn:
– Ở nhà nấu cơm đừng chắt nước kẻo bị phỏng nghen! Mai má về.
Con Bé nghe tiếng má phóng qua cái mương trước nhà rồi mất đi trong tiếng đại bác rền rĩ và tiếng mưa. Nó nghĩ, cái cầu trơn nên má nhảy qua mương đi cho lẹ.
Sáng nay má lại đi qua nhà. Má ngồi xuống cùng với các cô du kích. Tiếng má gọi dậy lên từ xa. Chị em con Bé đang loay hoay lùi khoai dưới bếp, kéo nhau chạy ra. Má cạy mũi xuồng, treo trên bến tắm cho chị em nó chùm bánh ú, đưa dầm dứ dứ vào cái bụng thằng Hiển đang cởi truồng tồng ngổng, rồi lại bơi đi gấp. Các cô du kích tựa súng vào vai, để lộ hai cùi tay và ngực áo bết bùn đất, vỗ tay hoan hô chị em con Bé. Chị em con Bé vỗ tay hoan hô lại má và các cô, cái thuyền đầy lá nguỵ trang, lô nhô đầu súng, trôi khuất sau lùm cây te tua vì đạn đại bác còn sót lại những cành hoa dành dành trắng muốt. […]
... Sáng hôm sau, giữa lúc máy bay đang quần đảo, có một người đàn bà vác súng, tay cầm lá nguỵ trang, bước vào trong xóm. Tiếng cười đi trước, con người đi sau, cả xóm len theo bóng cây nghe chuyện chiến đấu của chị. Chị vắt tấm choàng lên vai, trao súng cho con Bé, cây súng có treo chùm bánh ú, rồi ôm lấy mấy đứa con. Ði vài bước, chị lại đứng để trả lời cô bác. Cả xóm ai cũng muốn hỏi thăm chị một câu. Tiếng chị kéo dài trên đường xóm, thằng nhỏ trên tay chị bi bô, cạy những miếng bùn khô dính trên vai áo mẹ. Lũ trẻ chạy theo chị như lũ gà con. […]
Chị xốc luôn thằng Hiển lên một tay nữa, hít vào má nó, rồi cả hai tay bồng hai đứa con, chị bước nhẹ nhàng qua cây cầu mương trước cửa, vào nhà đi thẳng xuống bếp. Ðó là chị Nguyễn Thị Út, người Anh hùng của quân đội chúng ta.
(Nguyễn Thi, Mẹ vắng nhà(2), đăng trên https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/me-vang-nha-255005)
* Chú thích:
(1) Nhà mẹ Lê: Tác phẩm được Thạch Lam sáng tác vào năm 1937, kể về cuộc sống khó khăn, thiếu ăn, thiếu mặc của gia đình bác Lê ở khu phố chợ nghèo. Trong những sáng tác của mình, Thạch Lam thường tập trung khắc hoạ cuộc sống của những người dân nghèo nơi phố huyện hay của những người trí thức bình dân thông qua những cốt truyện đơn giản, lời văn trong sáng, giản dị và giàu chất thơ.
(2) Mẹ vắng nhà: Tác phẩm được viết vào tháng 6 năm 1966, dựa trên một câu chuyện có thật của mẹ con chị Út Tịch ở Trà Vinh. Câu chuyện kể về những năm tháng tuổi thơ của năm chị em Bé tự chăm sóc nhau trong khi mẹ Út Tịch phải thường xuyên xa nhà đi đánh giặc. Văn chương của Nguyễn Thi mang đậm dấu ấn chủ nghĩa hiện thực cách mạng bởi trong các tác phẩm của mình, ông không chỉ khắc hoạ rõ hiện thực chiến tranh, nỗi đau đớn mà con người phải chịu đựng mà ông còn ca ngợi sự kiên cường, gan góc, anh hùng của những người dân Nam Bộ chân chất, đầy nghĩa tình, đặc biệt là người phụ nữ.