Câu 1

Câu 1:

Nối các từ in đậm trong đoạn văn dưới đây với con vật được gọi tương ứng.

Mùa xuân, ngày nào cũng là ngày hội. Muôn loài vật trên đồng lũ lượt kéo nhau đi. Những anh chuồn ớt đỏ thắm như ngọn lửa. Những chuồn chuồn kim nhịn ăn để thân hình mảnh dẻ, mắt to, mình nhỏ xíu, thướt tha bay lượn. Các chú bọ ngựa vung gươm tập múa võ trên những chiếc lá to. Các cánh cam diêm dúa, các chị cào cào xoè áo lụa đỏm dáng,... Đạo mạo như bác giang, bác dẽ cũng vui vẻ dạo chơi trên bờ đầm.

(Theo Xuân Quỳnh)

Câu 2:
Tự luận

Em có nhận xét gì về cách dùng những từ đó trong đoạn văn?

Câu 2

Sắp xếp những từ ngữ trong đoạn thơ dưới đây vào nhóm tương ứng.

olm, cau 2

  • Sải tay
  • Hàng bưởi
  • Nhảy múa
  • Rạch ngang trời
  • Bơi
  • Ghé xuống sân
  • Ngọn mùng tơi
  • Bụi tre
  • Mưa
  • Gỡ tóc
  • Khanh khách/ Cười
  • Sấm
  • Chớp
  • Cây dừa
  • Bế lũ con
  • Tần ngần

Chỉ vật, hiện tượng tự nhiên

    Chỉ người hoặc đặc điểm, hoạt động của người

      Câu 3

      Cho đoạn thơ:

      Đồng làng vương chút heo may

      Mầm cây tỉnh giấc, vườn đầy tiếng chim

      Hạt mưa mải miết trốn tìm

      Cây đào trước cửa lim dim mắt cười

      Quất gom từng giọt nắng rơi

      Làm thành quả − trăm mặt trời vàng mơ...

      (Đỗ Quang Huỳnh)

      Câu 1:

      Trong đoạn thơ trên, những vật và hiện tượng tự nhiên nào được nhân hoá?

      Hạt mưa trốn tìm.
      Cây đào lim dim, cười.
      Vườn đầy tiếng chim.
      Quất gom nắng.
      Mầm cây tỉnh giấc.
      Trăm mặt trời vàng.
      Câu 2:
      Tự luận

      Trong đoạn thơ trên, những vật và hiện tượng tự nhiên được nhân hoá bằng cách nào?

      Câu 4
      Tự luận

      Đặt 1 − 2 câu về con vật, cây cối, đồ vật,... trong đó có sử dụng biện pháp nhân hoá.