Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề thi thử TN THPTQG lần 3 (THPT B Nguyễn Khuyến) SVIP
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
“CHIM CÔNG LÀNG MÚA” TRUNG QUỐC DƯƠNG LỆ BÌNH
LẦN ĐẦU BIỂU DIỄN TẠI VIỆT NAM
Tháng 3/2026 tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội), vở diễn huyền thoại “Khổng Tước” của nghệ sĩ múa kiệt xuất Dương Lệ Bình mở ra khung cảnh đầu tiên của mùa xuân, hoà nhịp thiên nhiên và nội tâm trong từng nhịp vũ…
(1) Mùa xuân năm 2026, Công ty Cổ phần Truyền thông VIETART lần đầu mang kiệt tác này đến Việt Nam, đánh dấu cột mốc đặc biệt khi “Chim công làng múa” sải cánh giữa lòng Hà Nội, đưa nghệ thuật múa phương Đông đến gần hơn với trái tim khán giả Việt.

Khổng tước – The Peacock Hanoi 2026. Ảnh: Công ty Cổ phần Truyền thông VietArt
“Khổng Tước” – kiệt tác nghệ thuật phương Đông
(2) “Khổng Tước” là hình tượng sân khấu kinh điển, một sáng tạo độc bản của Dương Lệ Bình. Với loạt tác phẩm như “Linh Hồn Của Khổng Tước”, bà đạt cảnh giới khiến khán giả thốt lên: “Cô chính là Khổng Tước, và Khổng Tước chính là cô.” Năm 2012, vở vũ kịch “Khổng Tước” ra đời, ngay lập tức được khen ngợi và thu hút đông đảo khán giả, tạo nên hiện tượng nghệ thuật đặc biệt. Phiên bản năm 2022 của vở vũ kịch “Khổng Tước” được tái dựng hoành tráng, với hình thức sân khấu hoàn toàn mới, được trau chuốt và điều chỉnh tỉ mỉ để đạt đến sự hoàn thiện cao nhất. Trong chuỗi lưu diễn đầu tiên tại 12 thành phố với 50 buổi biểu diễn, toàn bộ vé đều được bán hết, khẳng định sức hút mãnh liệt của tác phẩm và tạo nên “làn sóng Khổng Tước” lan toả khắp Trung Quốc. Từ năm 2023 đến 2024, “Khổng Tước” tiếp tục bay xa đến hơn 40 thành phố, bao gồm Bắc Kinh, Quảng Châu, Thượng Hải..., mang đến cho khán giả khắp nơi một đại tiệc thị giác và cảm xúc không thể bỏ lỡ. Đến năm 2025, vở vũ kịch “Khổng Tước” hoàn thành buổi diễn thứ 700 toàn cầu, đem lại trải nghiệm sâu sắc về ánh sáng, vũ đạo, sự sống và tình yêu. Phiên bản năm 2022 của vở vũ kịch “Khổng Tước”, Dương Lệ Bình đảm nhiệm vai trò Tổng biên đạo, Giám đốc nghệ thuật đồng thời là Diễn viên đặc biệt trong phân cảnh mùa Đông. Với phiên bản này, bà đã trân trọng mời nhà thiết kế mỹ thuật đoạt giải “Thiết kế mỹ thuật xuất sắc nhất” của giải Oscar – nghệ sĩ thị giác danh tiếng Diệp Cẩm Thiêm, cùng đội ngũ sáng tạo hùng hậu tham gia dàn dựng. Toàn bộ vở diễn kết tinh tinh hoa nghệ thuật múa của Dương Lệ Bình, là lời chất vấn tối hậu của “nữ thần vũ đạo” về ý nghĩa sự sống.
“Khổng Tước – The Peacock Hanoi 2026” – Vũ khúc huyền thoại sải cánh tại Hà Nội
(3) Trong chuỗi hành trình chinh phục khán giả khắp năm châu với hàng trăm buổi biểu diễn, “Khổng Tước” phiên bản năm 2022 của Dương Lệ Bình lần đầu tiên ra mắt công chúng Việt Nam với bốn suất diễn đặc biệt trong ba ngày 6,7,8 tháng 3/2026 tại Nhà hát Hồ Gươm (40 Hàng Bài, Cửa Nam, Hà Nội). Bốn suất diễn duy nhất tại không gian biểu diễn hiện đại và sang trọng bậc nhất Thủ đô, quy tụ hàng trăm nghệ sĩ múa chuyên nghiệp hàng đầu Trung Hoa, hàng trăm bộ trang phục thủ công truyền thống, cùng hệ thống dàn dựng sân khấu – âm thanh – ánh sáng đạt chuẩn quốc tế. Vở diễn gồm bốn chương: Xuân, Hạ, Thu, Đông, kể câu chuyện về sự trưởng thành, bản tính con người, sự sống và tình yêu, thể hiện sự hoà hợp giữa sinh mệnh và thiên nhiên. Qua hình thức nghệ thuật sân khấu, vở diễn mang đến một hành trình khám phá thế giới đầy thiên ý, truy vấn sâu sắc về nhân tính và sự sống, phản chiếu tình cảm nhân văn nơi giao hòa giữa đời sống và nghệ thuật.
(4) Việc đưa vở vũ kịch “Khổng Tước” đến Việt Nam không chỉ là một dấu mốc nghệ thuật, mà còn là hành trình kết nối tinh hoa vũ đạo thế giới với tâm hồn Việt, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá Thủ đô.
(Theo Minh Hoà – https:vietnamnet.vn/chim-cong-lang-mua-trung-quoc-duong-le-binh-lan-dau-bieu-dien-tai-viet-nam)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu hình thức để xác định thể loại của văn bản trên.
Câu 2. Theo bài viết, vở vũ kịch “Khổng Tước” phiên bản năm 2022 có những điểm mới và sự thay đổi nào so với các phiên bản trước đó?
Câu 3. Phân tích tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn (2).
Câu 4. Nhận xét thái độ và quan điểm của người viết được thể hiện trong văn bản.
Câu 5. Từ thông tin về hành trình sải cánh của “Chim công làng múa” tại Hà Nội, anh/chị có suy nghĩ gì về nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của con người hiện nay.
Hướng dẫn giải:
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1. (0,5 điểm)
– Dấu hiệu hình thức để xác định thể loại của văn bản:
+ Phần sa-po ở đầu văn bản để khái quát nội dung chính.
+ Sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ: hình ảnh, số liệu.
+ Các đề mục in đậm.
– Thể loại: văn bản thông tin.
Câu 2. (0,5 điểm)
Theo bài viết, vở vũ kịch “Khổng Tước” phiên bản năm 2022 có những điểm mới và sự thay đổi so với các phiên bản trước đó:
– Tái dựng hoành tráng với hình thức sân khấu hoàn toàn mới, được trau chuốt tỉ mỉ.
– Dương Lệ Bình đảm nhiệm vai trò Tổng biên đạo, Giám đốc nghệ thuật đồng thời là diễn viên đặc biệt trong phân cảnh mùa Đông
– Có nghệ sĩ thị giác danh tiếng Diệp Cẩm Thiêm cùng đội ngũ sáng tạo hùng hậu tham gia dàn dựng.
Câu 3. (1,0 điểm)
– Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn 2: số liệu “12 thành phố với 50 buổi biểu diễn”, “hơn 40 thành phố”, “buổi diễn thứ 700 toàn cầu”.
– Tác dụng:
+ Làm cho thông tin hiện lên cụ thể, rõ ràng, có hệ thống; tăng tính xác thực, sức thuyết phục và độ tin cậy cho văn bản; giúp người đọc tiếp nhận thông tin dễ dàng, hiệu quả.
+ Nhấn mạnh, khẳng định, làm nổi bật giá trị, sức sống bền bỉ, quy mô tầm cỡ quốc tế và những thành công của vở diễn “Khổng tước” qua thời gian.
+ Thể hiện thái độ ngưỡng mộ, trân trọng, ngợi ca của tác giả đối với vở diễn và các nghệ sĩ biểu diễn.
Câu 4. (1,0 điểm)
– Thái độ, quan điểm của nười viết:
+ Thái độ: ngưỡng mộ, trân trọng, ngợi ca tài năng của nghệ sĩ Dương Lệ Bình và giá trị của kiệt tác “Khổng tước”.
+ Quan điểm: Đề cao sức mạnh kết nối của nghệ thuật và vai trò của việc giao lưu văn hóa quốc tế.
– Nhận xét thái độ, quan điểm: Đây là thái độ, quan điểm đúng đắn, tích cực, thể hiện cái nhìn sâu sắc, toàn diện và sự hiểu biết sâu rộng của người viết.
Câu 5. (1,0 điểm)
– Thông tin về hành trình sải cánh của “Chim công làng múa” tại Hà Nội: nghệ sĩ múa Dương Lệ Bình biểu diễn vở vũ kịch “Khổng tước” tại Hà Nội vào mùa xuân năm 2026.
– Suy nghĩ về nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của con người hiện nay:
+ Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của con người ngày càng tăng cao: sẵn sàng chi trả khoản tiền lớn để thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật có giá trị.
+ Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của con người ngày càng đa dạng: bên cạnh việc thưởng thức nghệ thuật chỉ để giải trí đơn thuần, họ mong muốn thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật truyền thống được làm mới, sáng tạo và khao khát được tiếp cận, thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật có giá trị, mang tầm quốc tế.
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc giao lưu văn hoá quốc tế trong bối cảnh đời sống hiện nay.
Câu 2 (4,0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích hình tượng nhân vật “tôi” trong truyện ngắn sau:
ĐÊM CÁ NỔI
(Đỗ Bích Thuý)
(Lược phần đầu: Tôi sinh ra ở núi rừng. Tôi ăn học ở thành phố. Núi rừng là tuổi thơ tôi. Thành phố là tuổi thanh xuân của tôi. Núi rừng ở sau lưng. Thành phố đang ở trước mặt. Tôi đang đi từ phía trước mặt về phía sau lưng. Đi về dòng Lô, dòng sông quê tôi…)
Có ánh đèn pin loang loáng, cha tôi lục sục trở dậy. “Po khó ngủ hở Po?”. “Không. Tao đi ra sông”. “Làm gì cơ?”. “Còn làm gì nữa. Đang mùa cá chép đẻ mà”. “A, Po đi lấy trứng về thả”. “Mày còn nhớ à. Tưởng cơm thịt Hà Nội làm mày quên rồi chứ. Con ơi! mày là người của núi rừng…”. Cha nói như dằn dỗi.
[…] Đêm nay, trăng núi hạ tuần nhuộm cho cả lòng sông ánh u tịch, trầm mặc. Gió lạnh chạy đuổi nhau ào ào, hun hút trên mặt sông u u huyền bí. Sóng nước dềnh lên ì oạp do con nước vấp phải ghềnh đá rải rác giữa dòng. Năm nào cũng vậy, cứ vào độ này – quãng tháng Chạp ra Giêng– là mùa cá chép nổi lên tìm chỗ đẻ trứng. Cá chép là thứ cá vừa khôn vừa dại, quanh năm kiếm ăn dưới đáy sâu, hiếm khi quăng chài, câu hay đánh dậm, đánh đó mà tóm được chúng. Ấy vậy mà cũng chỉ nó mới đem cái sự sinh nở duy trì nòi giống đầy thiêng liêng ngoi lên trên mặt nước mà khoe với thiên hạ. Người bản tôi ít ăn cá chép. Người già bảo rằng cá chép là loài chúa tể, quyết định sự tồn vong của loài cá sông, đem nó lên đĩa là một hành động phạm thượng. Thế nên khi đánh bắt được cá chép người ta có thể vì tiền mà đem bán chứ ít khi ăn. Cũng vì thế mà khúc sông này hình như nhiều cá chép hơn cả, chúng không bị săn lùng ráo riết cho mấy quán ăn bình dân dưới phố huyện. Hằng năm, cả bản ra sông vớt trứng cá đem về thả trong ao. Cuối năm, dịp ông Táo lên chầu trời là vừa kịp có cá chép bằng bàn tay phục vụ cho người tỉnh, người huyện mang ra sông phóng sinh.
Hai cha con tôi tắt đèn, ngồi nấp sau bụi lau sậy um tùm. Dưới chỗ chúng tôi ngồi chỉ chừng một tầm với thôi, đàn cá chép đang bắt đầu tụ tập quanh đám rễ cây buông xuống nước mềm mại, ấm áp. Độ nửa giờ sau, khi vầng trăng tròn nhô lên tới ngọn cây trám giữa thôn Nùng thì bắt đầu có tiếng lóc tóc lách tách. Cha tôi thì thầm: “Bắt đầu rồi đây”. Dần dần, tiếng lóc tóc lách tách lớn lên, âm thanh vội vã gấp gáp hơn, rồi rõ ra thành tiếng quẫy đạp ùm ũm. Tôi nín thở dõi theo ánh đèn pin đã che khuất hai phần ba bằng ngón tay trỏ của cha tôi, không tin nổi vào mắt mình. Bầy cá dễ có đến cả trăm con lúc nhúc chen vào giữa đám rễ cây, bên ngoài, những con khác nối đuôi nhau lượn thành vòng tròn.
[…] Tôi để cha ngồi lại một mình rồi xuôi xuống mé dưới. Không riêng gì cha con tôi mà người trong bản xuống lấy trứng cá cũng đông lắm. Bụi cây nào cũng thấy có tiếng nói chuyện rì rầm.
[…] Trong căn lều bên bến có một người đang cúi đầu vào bếp thổi phù phù. Tôi nhận ra Huyên. Ngày xưa tôi và Huyên cùng học ở trường huyện, lớn lên tôi được đi xa, còn Huyên phải bỏ học vì nhà neo người, cha Huyên lái đò mấy năm rồi nhưng hay đau ốm.
Huyên rót cho tôi bát nước chè rồi bóc sắn vùi vào bếp. Gương mặt tròn trịa, trắng ngần kín đáo dưới tấm khăn lanh đen đang được ánh lửa hắt lên hồng rực. Huyên hỏi tôi, hỏi mà như cười giễu: “Páo ơi, người Hà Nội còn biết chèo đò qua thác Pắng không đấy?”. “Có chứ. Quên thì không lấy được vợ đâu Huyên à”. “A lúi! Páo vẫn nhớ lời dặn của người già cơ à. Này… học xong thì về bắc được cây cầu sang Phú Linh đấy nhỉ”. “Ừ. Được… nhưng không bắc đâu. Để Huyên còn chèo đò nữa chứ, vắng Huyên thì buồn lắm”. Huyên cười thành tiếng. Tiếng cười trong vắt vỡ ra giữa đôi hàm răng đều như hàng ngô nếp đầu mùa trắng bóng. “Huyên ơi, hát phươn đi cho Páo nghe với. Lâu quá không được nghe rồi, nhớ lắm!”. “Thôi mà. Mặt trời chưa mọc không hát được đâu”.
(Lược phần cuối: Tôi trở về khi trời vừa sáng nhưng vẫn mang trong lòng nỗi niềm bâng khuâng trước mây trời và cảnh vật quê hương, đặc biệt là bóng hình của Huyên trong tâm hồn).
(Trích tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Đỗ Bích Thuý,
NXB Văn học, 2021, tr.73 – 80)
* Chú thích:
Nhà văn Đỗ Bích Thúy quê gốc tại Nam Định nhưng sinh ra và lớn lên tại vùng cao nguyên đá Hà Giang, hiện đang công tác tại Báo Văn nghệ Quân đội. Chị được mệnh danh là “nàng thơ của văn xuôi miền núi” bởi những trang viết nhẹ nhàng mà sâu lắng, đánh thức phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn con người, đó là tính thiện, là tình người, tình quê hương sâu nặng.
Hướng dẫn giải:
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
a. Xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn. (0,5 điểm)
– Vấn đề nghị luận: ý nghĩa của việc giao lưu văn hóa quốc tế trong bối cảnh đời sống hiện nay.
– Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo lối diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, song song,…
b. Viết đoạn văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu, triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận. (1,5 điểm)
b1. Hiểu đúng vấn đề nghị luận:
– Giao lưu văn hoá quốc tế: là quá trình tiếp xúc, trao đổi và học hỏi giữa các nền văn hoá khác nhau trên thế giới.
b2. Ý nghĩa của việc giao lưu văn hoá quốc tế trong bối cảnh đời sống hiện nay:
– Bối cảnh đời sống hiện nay: khoa học, công nghệ, internet phát triển mạnh mẽ, giao lưu văn hoá quốc tế trở thành xu thế tất yếu như nhịp cầu kết nối các dân tộc…
– Ý nghĩa của việc giao lưu văn hoá quốc tế:
+ Giúp con người mở rộng tầm nhìn, tầm hiểu biết: được tiếp cận với nhiều nền văn hoá, hiểu biết về đời sống văn hoá, phong tục của các nước trên thế giới, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại.
+ Thúc đẩy sự sáng tạo ở con người: Tiếp thu những nét đặc sắc của văn hoá thế giới kết hợp với những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc sẽ kích thích khả năng tư duy sáng tạo của con người để tạo ra những sản phẩm văn hoá mới, độc đáo, phù hợp với thời đại.
+ Giúp quảng bá và bảo tồn văn hoá dân tộc: Giao lưu văn hoá không chỉ giúp con người tiếp thu cái hay, cái mới mà còn hình thành ở người trẻ trách nhiệm lan toả, giới thiệu những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc ra thế giới, từ đó nâng cao vị thế dân tộc trên thế giới.
Thí sinh lấy dẫn chứng minh hoạ.
– Giao lưu văn hoá quốc tế là cần thiết nhưng cần tỉnh táo, sáng suốt, “hoà nhập mà không hoà tan”, phải biết chọn lọc những tinh hoa, loại bỏ những yếu tố không phù hợp, biết giữ những giá trị văn hoá cốt lõi, bản sắc của dân tộc.
b3. Sáng tạo
– Có những ý tưởng đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục.
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu của bài văn. (0,5 điểm)
– Xác định đúng vấn đề nghị luận: hình tượng nhân vật “tôi” trong truyện ngắn “Đêm cá nổi” của Đỗ Bích Thuý
– Đảm bảo đúng yêu cầu về cấu trúc bài văn nghị luận, dung lượng (khoảng 600 chữ).
b. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết: (3,5 điểm) có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau miễn là hợp lí và thuyết phục; sau đây là gợi ý về cách triển khai và một số nội dung cụ thể:
b1. Viết được mở bài, kết bài cho bài văn.
b2. Phân tích hình tượng nhân vật “tôi”:
– Khái quát hình tượng nhân vật “tôi”: Là hình tượng nhân vật chính, được đặt trong tình huống: sau nhiều năm đi học xa tại thành phố, tôi trở về thăm nhà, cùng cha đi lấy trứng cá chép trong “Đêm cá nổi”. Qua đó nhân vật “tôi” hiện lên là người có tâm hồn nhạy cảm, giàu tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, gắn bó với nguồn cội.
– Phân tích hình tượng nhân vật tôi:
+ Là người có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, giàu tình yêu thiên nhiên:
++ Trở về quê hương, cùng cha đi lấy trứng cá, nhân vật tôi có những cảm nhận tinh tế, đầy chất thơ về vẻ đẹp của thiên nhiên quê hương: Đó là đêm trăng hạ tuần nơi dòng sông quê nhà với ánh trăng “u tịch, trầm mặc”, tiếng gió “chạy đuổi nhau ào ào, hun hút”, mặt sông “u u huyền bí”, sóng nước “dềnh lên ì oạp”.
++ Am hiểu về đặc tính của loài cá chép: hiểu thời điểm cá đẻ trứng “năm nào cũng vậy, cứ vào độ này – quãng tháng Chạp ra Giêng – là mùa cá chép nổi lên tìm chỗ đẻ trứng”, “cá chép là thứ cá vừa khôn vừa dại, quanh năm kiếm ăn dưới đáy sâu”; có những quan sát tỉ mỉ, cảm nhận rõ sự sống và vẻ đẹp của loài cá: “tiếng lóc tóc lách tách lớn lên, âm thanh vội vã gấp gáp hơn, rồi rõ ra thành tiếng quẫy đạp ùm ũm”, “bầy cá dễ có đến cả trăm con lúc nhúc chen vào giữa đám rễ cây”, “nối đuôi nhau lượn thành vòng tròn”. Với “tôi”, “đêm cá nổi” không chỉ là một hiện tượng sinh học mà còn là một khung cảnh đẹp, thiêng liêng của thiên nhiên, của sự sinh sôi nảy nở mãnh liệt.
+ Là người giàu tình yêu quê hương, gắn bó sâu nặng với truyền thống, cội nguồn:
++ Dù sống ở thành phố nhiều năm nhưng nhân vật “tôi” vẫn luôn nhớ về quê hương, không quên những nếp sinh hoạt xưa cũ của cha và bản làng: khi trở về nhà, thấy cha lục sục trở dậy, nhân vật “tôi” đã biết cha chuẩn bị đi lấy trứng cá chép “A, Po đi lấy trứng về thả”. Sau đó “tôi” đã cùng cha ra sông trong đêm để lấy trứng cá, cùng cha thực hiện một nếp sinh hoạt truyền thống của bản làng.
++ Nhân vật “tôi” am hiểu và trân trọng những phong tục, tập quán của bản làng: hiểu thói quen “người bản tôi ít ăn cá chép” bởi họ quan niệm “cá chép là loài chúa tể, quyết định sự tồn vong của loài cá sông”; hiểu phong tục “hằng năm, cả bản ra sông vớt trứng cá đem về thả trong ao” để cuối năm có cá cho mọi người phóng sinh nhân dịp ông Táo lên chầu trời; trân trọng khoảnh khắc cùng cha “nín thở theo dõi” đàn cá đẻ; cảm nhận rõ khung cảnh đông vui của người dân trong “đêm cá nổi” khi lấy trứng cá người trong bản xuống lấy trứng cá cũng đông lắm. Bụi cây nào cũng thấy có tiếng nói chuyện rì rầm.
++ Luôn nhớ về quê hương và khao khát cống hiến: Cuộc gặp gỡ với Huyên, người bạn học thuở trước không chỉ dấy lên trong “tôi” những cảm xúc trong trẻo, những rung động mới mẻ “vắng Huyên thì buồn lắm” mà còn khắc sâu trong “tôi” ý thức về quê hương, nguồn cội. “Tôi” vẫn nhớ tới “lời dặn của người già” phải biết “chèo đò qua thác Pắng”, vẫn khao khát được nghe điệu hát phươn của quê hương “Huyên ơi, hát phươn đi cho Páo nghe với. Lâu quá không được nghe rồi, nhớ lắm!”. Lời hứa với Huyên “học xong sẽ về bắc cây cầu sang Phú Linh” phải chăng là khát khao cống hiến của “tôi” cho quê nhà.
– Nghệ thuật xây dựng nhân vật “tôi”:
+ Xây dựng tình huống truyện đặc sắc: tình huống trở về của nhân vật “tôi”
+ Lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn phù hợp: ngôi kể thứ nhất, điểm nhìn hạn tri – điểm nhìn của nhân vật “tôi”, một người con trở về quê hương sau những năm tháng xa cách. Từ đó giúp nhân vật “tôi” trực tiếp bộc lộ dòng suy tư, cảm xúc và những rung động tinh tế của mình.
+ Ngôn ngữ: chân thực, mộc mạc, giản dị mà giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, đậm chất miền núi; giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng.
b3. Đánh giá:
– Hình tượng nhân vật “tôi” được khắc hoạ chân thực, sinh động, trở thành hình tượng tiêu biểu cho những người con xa quê nhưng giàu tình yêu quê hương, luôn hướng về quê hương, biết trân trọng, gìn giữ cội nguồn, truyền thống. Qua đó cho thấy tài năng và tấm lòng của Đỗ Bích Thuý.
– Từ hình tượng nhân vật “tôi”, tác phẩm ngợi ca vẻ đẹp của văn hoá truyền thống, nhắc nhở về sự trân trọng những giá trị của quê hương, nguồn cội.
b4. Sáng tạo:
– Có những ý tưởng đột phá, vượt ra ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục.
– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.