Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề số 4 SVIP
I. Phần Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
11.7.68
Một đêm dài nói chuyện với Luân – một học sinh trong lớp bổ túc y tá. Những buổi nói chuyện thế này đã bồi đắp cho tình thương của mình thêm phong phú, đã xây dựng cho mình một ý thức về sự giác ngộ cách mạng và về nhân sinh quan của một người Cộng sản.
Hơn những bài lý thuyết, cuộc đời Luân là một bài học về những vấn đề ấy. Từ mười tuổi đầu, Luân đã biết làm cách mạng, em biết nỗi căm thù của một gia đình bị cô lập trước chính quyền Mỹ, em biết nỗi thương bà già, thương mẹ trẻ em thơ đang chịu muôn vàn đau khổ dưới chế độ của chúng. Và em đã đi, đêm đêm băng rào của ấp chiến lược, đưa tin cho cán bộ. Rồi mới mười lăm tuổi đầu em cầm súng tham gia du kích, từ ấy đến nay bàn tay của cậu bé hai mốt tuổi ấy đã bao lần bắn gục giặc Mỹ và cũng đã bao lần đỡ trên tay những đồng chí của mình ngã xuống trên mảnh đất quê em. Cả mùa khô năm qua Luân đã trụ bám cùng đồng đội du kích Phổ Vinh, ngày nằm công sự, đêm đi làm công tác. Mưa gió phong sương đã đọng lại trên khuôn mặt của tuổi hai mươi. Luân hơi già trước tuổi và già hơn rất nhiều so với tuổi đời. Mình thương Luân, phục Luân, tuy Luân còn có một số nhược điểm nhưng đó là một trong những người dân Việt Nam anh hùng.
Đêm khuya, đài phát thanh đã hết nói từ lâu nhưng hai chị em vẫn còn thao thức, mỗi người một ý nghĩ. Mình nghĩ đến ngày hoà bình, mình mong ước Luân cũng như muôn nghìn thanh niên miền Nam đã hai mươi năm ròng đắng cay gian khổ sẽ còn sống còn được hưởng những ngày hạnh phúc ấy. Còn Luân, em nghĩ gì hở em? Hãy nuôi mãi niềm tin hy vọng của tuổi trẻ. Chị không muốn thấy sự khổ đau đọng lại trong đôi mắt còn thoáng nét thơ ngây của em đâu.
(Theo Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, Đặng Thuỳ Trâm, đăng trên https://nhasachmienphi.com/nhat-ky-dang-thuy-tram.html)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định thể loại của văn bản trên.
Câu 2. (0,5 điểm) Trong văn bản, người viết đã sử dụng ngôi kể nào?
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ thân mật trong văn bản trên.
Câu 4. (1,0 điểm) Liệt kê một số chi tiết thể hiện tính xác thực trong văn bản trên và cho biết tác dụng của chúng.
Câu 5. (1,0 điểm) Từ nội dung của văn bản trên, anh/ chị rút ra cho mình bài học gì? Vì sao? (Trình bày ngắn gọn từ 5 − 7 dòng)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Thể loại: Nhật ký.
Câu 2. (0,5 điểm)
Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, người kể xưng “mình”.
Câu 3. (1,0 điểm)
− Đặc điểm của ngôn ngữ thân mật trong văn bản là: Ngôn ngữ trong văn bản gần gũi, tự nhiên, thoải mái, được dùng trong hoàn cảnh giao tiếp không theo nghi thức (xuất hiện ở dạng viết − nhật ký); thể hiện thái độ, tình cảm thân mật,... Loại ngôn ngữ này có đặc điểm:
+ Sử dụng khẩu ngữ (“mười tuổi đầu”, “mười lăm tuổi đầu”, hở,...), tình thái từ (“hở”).
+ Sử dụng câu rút gọn (“Hãy nuôi mãi niềm tin hy vọng của tuổi trẻ.”), câu có cấu trúc đơn giản (“Còn Luân, em nghĩ gì hở em?”, “Một đêm dài nói chuyện với Luân – một học sinh trong lớp bổ túc y tá.”,...).
Câu 4. (1,0 điểm)
− Một số chi tiết thể hiện tính xác thực của văn bản:
+ Địa danh: Phổ Vinh.
+ Thời gian: 11.7.68.
+ Con người: Luân, bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm.
+ Sự kiện: Bác sĩ Trâm trò chuyện với Luân, suy ngẫm về những sự kiện trong cuộc đời của người du kích trẻ tuổi (tham gia du kích, đưa tin cho cán bộ, chiến đấu với quân thù,...).
− Tác dụng: Tăng độ tin cậy cho những sự việc, con người được nhắc đến trong nhật ký.
Câu 5. (1,0 điểm)
− HS rút ra cho mình bài học và đưa ra được kiến giải hợp lí trong khoảng 5 − 7 dòng.
− Những bài học có thể rút ra từ văn bản là:
+ Sống có lý tưởng và trách nhiệm với Tổ quốc.
+ Trân trọng giá trị của hoà bình và biết ơn thế hệ cha anh đã đánh đổi biết bao xương máu để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.
+ Biết giữ vững niềm tin, hy vọng của tuổi trẻ.
+ …
II. Phần Viết (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Từ văn bản ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Luân.
Câu 2. (4,0 điểm) Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về lòng yêu nước của người trẻ hiện nay.
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0.25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
− Về kiểu đoạn văn, HS có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng − phân − hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.25 điểm):
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật Luân.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1.5 điểm):
− Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Luân là một học sinh trong lớp bổ túc y tá.
+ Mười tuổi, Luân đã tham gia cách mạng, thấu hiểu sâu sắc nỗi khổ đau của nhân dân ta khi sống dưới ách cai trị của chính quyền Mỹ: “Từ mười tuổi đầu, Luân đã biết làm cách mạng, em biết nỗi căm thù của một gia đình bị cô lập trước chính quyền Mỹ, em biết nỗi thương bà già, thương mẹ trẻ em thơ đang chịu muôn vàn đau khổ dưới chế độ của chúng.”; đêm đêm băng rào để đưa tin cho cán bộ.
+ Mười lăm tuổi, Luân tham gia du kích, bao phen giáp mặt chiến đấu với địch, bao lần ôm xác đồng đội trên mảnh đất quê hương,...
=> Hoàn cảnh chiến tranh, nỗi thống khổ của nhân dân đã hun đúc lòng gan dạ, tình yêu nước và tinh thần cống hiến cho nhân dân, đất nước trong lòng một chàng trai trẻ tuổi đất Phổ Vinh.
=> Nhận xét, đánh giá về nhân vật: Luân hiện lên như một tấm gương tiêu biểu của thế hệ thanh niên miền Nam trong những năm tháng chống Mỹ: Giàu lý tưởng, gan góc, chín chắn, trưởng thành sớm trong những ngày đất nước trải đầy phong ba bão táp của chiến tranh.
− Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn.
Câu 2.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của bài văn (0.25 điểm):
Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.25 điểm):
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Bàn luận về lòng yêu nước của người trẻ hiện nay.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1.5 điểm):
− Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
c.1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
c.2. Thân bài: Cần triển khai các ý:
− Làm rõ bản chất của vấn đề:
+ Khái niệm: Lòng yêu nước là tình yêu, niềm tự hào và trách nhiệm đối với Tổ quốc; tinh thần sẵn sàng hành động, cống hiến sức mình vì lợi ích chung của cộng đồng, dân tộc.
+ Biểu hiện:
++ Tích cực học tập, rèn luyện để nâng cao tri thức để góp phần xây dựng, phát triển đất nước.
++ Tham gia các hoạt động thiện nguyện, sống nhân ái, có trách nhiệm với cộng đồng.
++ Giữ gìn văn hoá dân tộc, tôn trọng lịch sử, có ý thức bảo vệ chủ quyền đất nước.
++ …
+ Thực trạng:
++ Tích cực: Nhiều bạn trẻ có lý tưởng sống đẹp, yêu nước, chủ động cống hiến cho đất nước trên nhiều phương diện như: Giáo dục, kinh tế, văn hoá,...
++ Tiêu cực: Một số bạn trẻ còn thờ ơ với lịch sử, văn hoá của dân tộc, thiếu ý thức trong việc bảo vệ chủ quyền dân tộc,... (Ví dụ: Nhiều bạn trẻ bất chấp xem những bộ phim (“Hãy để tôi toả sáng”, “Gửi thời thanh xuân ấm áp của chúng ta”, “Pine Gap”, “Uncharted”, “Barbie”) có hình ảnh bản đồ tuyên truyền đường lưỡi bò thay vì tẩy chay, bài trừ.)
+ Nguyên nhân dẫn đến thực trạng tiêu cực và những hậu quả liên quan:
++ Sự ảnh hưởng tiêu cực từ các trang mạng xã hội: Trong thời đại bùng nổ thông tin, các thông tin sai lệch có thể xuất hiện nhiều trên các trang mạng xã hội mà không được kiểm duyệt kĩ càng. Chính sự thiếu sót này đã tạo nên những lầm tưởng, những hiểu biết sai lệch trong nhận thức của người trẻ. Điều này dễ tạo ra những lỗ hổng để những thế lực thù địch lợi dụng để gây rạn nứt sự đoàn kết trong cộng đồng, dân tộc.
++ Thiếu sự định hướng trong giáo dục: Nhiều bạn trẻ chưa được giáo dục đầy đủ về lịch sử, văn hoá dân tộc; giáo dục truyền thống đôi khi khô khan, thiếu hấp dẫn khiến người học chán nản trước những nội dung về lịch sử, văn hoá của đất nước. Hệ quả là nhiều bạn trẻ không hiểu đúng về văn hoá dân tộc, về giá trị của lòng yêu nước, dẫn đến những hành động thờ ơ, vô cảm trước những vấn đề của đất nước.
++ Tâm lý đám đông, lối sống thực dụng, chạy theo vẻ ngoài: Một số người trẻ bị cuốn vào phong trào, trào lưu giải trí mà thể hiện lòng yêu nước giả tạo, cốt để có được sự công nhận của số đông; hoặc có lối sống vị kỷ, thực dụng chỉ nghĩ đến việc hưởng thụ mà quên đi trách nhiệm với cộng đồng. Hậu quả là lòng yêu nước ở bộ phận này trở nên hời hợt, chỉ thể hiện bằng lời nói hoặc hành động bột phát, giả tạo.
− Liên hệ, mở rộng vấn đề:
+ Phản đề: Nhiều bạn trẻ cho rằng yêu nước cần phải được thể hiện bằng những việc làm to tát hoặc được thực hiện bởi những người có điều kiện. Đây là quan niệm sai lầm vì tình yêu nước hiện hữu ngay trong những hành động giản dị, nhỏ bé, quen thuộc trong cuộc sống và có thể được thực hiện bởi bất kì ai, ở bất cứ đâu. (Ví dụ: Bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, chia sẻ văn hoá của đất nước đến bạn bè quốc tế, giới thiệu những món ăn đặc trưng của quê hương mình cho bạn bè,...)
+ Giải pháp: Mỗi người trẻ cần:
++ Có ý thức tự rèn luyện đạo đức, bồi đắp tri thức, phát triển kĩ năng để có thể đóng góp cho cộng đồng, dân tộc những giá trị tốt đẹp, có ý nghĩa.
++ Chăm chỉ tìm hiểu về lịch sử, mở rộng vốn hiểu biết về lịch sử, văn hoá của dân tộc để hiểu đúng, hiểu sâu về những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.
++ Gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kì hội nhập.
++ …
c.3. Kết bài: Khái quát lại vấn đề nghị luận.