Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề tham khảo số 6 SVIP
(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.
KHI MẸ VẮNG NHÀ
Khi mẹ vắng nhà, em luộc khoai
Khi mẹ vắng nhà, em cùng chị giã gạo
Khi mẹ vắng nhà, em thổi cơm
Khi mẹ vắng nhà, em nhổ cỏ vườn
Khi mẹ vắng nhà, em quét sân và quét cổng
Sớm mẹ về, thấy khoai đã chín
Buổi mẹ về, gạo đã trắng tinh
Trưa mẹ về, cơm dẻo và ngon
Chiều mẹ về, cỏ đã quang vườn
Tối mẹ về, cổng nhà sạch sẽ
Mẹ bảo em: Dạo này ngoan thế!
− Không mẹ ơi! Con đã ngoan đâu
Áo mẹ mưa bạc màu
Đầu mẹ nắng cháy tóc
Mẹ ngày đêm khó nhọc
Con chưa ngoan, chưa ngoan!
(Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, 1968)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5. (trình bày ngắn gọn)
Câu 1. Chỉ ra một dòng thơ thể hiện yếu tố tự sự trong bài thơ.
Câu 2. Khi mẹ vắng nhà, "em" đã làm những công việc gì?
Câu 3. Theo em, vì sao người con lại cho rằng bản thân mình chưa ngoan?
Câu 4. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ đầu của bài thơ.
Câu 5. Từ nội dung của bài thơ, em hãy chia sẻ ngắn gọn tình cảm mà em dành cho mẹ. Là một người con, em sẽ làm gì để khiến mẹ yên lòng và tự hào? (Trình bày khoảng 5 − 7 câu)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
HS chỉ ra một dòng thơ thể hiện yếu tố tự sự trong bài thơ. Ví dụ: "Khi mẹ vắng nhà, em luộc khoai".
Câu 2. (0,5 điểm)
Khi mẹ vắng nhà, "em" đã làm rất nhiều công việc để giúp đỡ gia đình, cụ thể là: Luộc khoai, cùng chị giã gạo, thổi cơm, nhổ cỏ, quét sân, quét cổng.
Câu 3. (1,0 điểm)
− HS dựa vào nội dung của bài thơ để lí giải những nguyên nhân mà người con cho rằng bản thân mình vẫn chưa ngoan.
− Ví dụ: Người con cho rằng mình chưa ngoan bởi vì "em" nhận thấy những việc mình làm vẫn chưa thể nào so sánh được với sự hi sinh, vất vả của mẹ. "Em" thấy mẹ ngày đêm khó nhọc, phải dãi dầu mưa nắng đến "bạc màu áo", "cháy tóc" để lo cho gia đình. Tình yêu thương và lòng biết ơn sâu sắc dành cho mẹ đã khiến "em" cảm thấy mình cần phải cố gắng nhiều hơn nữa để mẹ đỡ vất vả, và vì thế "em" khiêm tốn tự nhận "Con chưa ngoan, chưa ngoan!".
Câu 4. (1,0 điểm)
− HS chỉ ra một biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ: Điệp ngữ ("Khi mẹ vắng nhà") hoặc liệt kê ("luộc khoai", "cùng chị giã gạo", "thổi cơm",...).
− HS phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ.
− Ví dụ: Biện pháp tu từ điệp ngữ "Khi mẹ vắng nhà, em..." có tác dụng:
+ Nhấn mạnh ý thức tự giác và sự chăm chỉ của người con khi mẹ không có ở nhà.
+ Thể hiện tình yêu thương mà người con dành cho mẹ.
+ Tạo nhịp điệu đều đặn, dồn dập cho bài thơ.
Câu 5. (1,0 điểm)
− HS dựa vào nội dung của bài thơ để bày tỏ tình cảm dành cho mẹ và những điều em sẽ làm để khiến mẹ yên lòng, tự hào.
− Ví dụ: Bài thơ "Khi mẹ vắng nhà" đã khơi dậy trong em lòng biết ơn và yêu thương vô hạn đối với mẹ. Em nhận ra rằng, mẹ đã luôn vất vả, hi sinh thầm lặng để cho em có được cuộc sống đủ đầy và hạnh phúc. Tình yêu thương của mẹ là nguồn động lực lớn lao để em cố gắng mỗi ngày. Để mẹ được yên lòng và tự hào, em sẽ luôn chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức để trở thành một người con ngoan, trò giỏi. Ngoài ra, em sẽ chủ động phụ giúp mẹ những công việc nhà phù hợp với sức của mình, san sẻ bớt gánh nặng để mẹ có thêm thời gian nghỉ ngơi. Em tin rằng, sự trưởng thành và ngoan ngoãn của em chính là món quà ý nghĩa nhất dành tặng mẹ.
Câu 1. (2,0 điểm) Hãy viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) nêu cảm xúc của em về tình cảm bạn nhỏ dành cho mẹ trong bài thơ "Khi mẹ vắng nhà" của tác giả Trần Đăng Khoa.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn kể về một lần em vượt qua nỗi sợ của bản thân.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.
− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Nêu cảm xúc của em về tình cảm bạn nhỏ dành cho mẹ trong bài thơ "Khi mẹ vắng nhà" của tác giả Trần Đăng Khoa.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Gợi ý:
– Cảm nhận về đặc sắc nội dung của bài thơ:
+ Hình ảnh người con ngoan ngoãn, yêu thương, tự giác giúp đỡ mẹ:
++ Khi mẹ vắng nhà, bạn nhỏ không chơi đùa mà chăm chỉ làm việc: Luộc khoai, giã gạo, thổi cơm, nhổ cỏ, quét sân và quét cổng.
++ Những công việc quen thuộc, gần gũi nhưng thể hiện tinh thần trách nhiệm và tấm lòng hiếu thảo của bạn nhỏ.
=> Học sinh nêu cảm xúc: Cảm phục trước sự ngoan ngoãn và tình yêu thương của bạn nhỏ dành cho mẹ. Dù còn nhỏ, bạn đã biết tự lập, biết nghĩ cho mẹ – điều mà không phải ai nào cũng làm được. Tình cảm ấy khiến em thấy mình cần sống tốt hơn, biết phụ giúp cha mẹ để bày tỏ tình yêu thương.
+ Sự thấu hiểu, biết ơn và tình yêu thương sâu sắc dành cho mẹ:
++ Dù làm được nhiều việc nhưng bạn nhỏ vẫn cảm thấy mình chưa xứng đáng với lời khen của mẹ, nhận thấy mình "chưa ngoan".
++ Nhận thấy sự nhọc nhằn, vất vả, gian nan hằn in trên áo và tóc của mẹ.
++ Thể hiện sự trưởng thành trong suy nghĩ khi biết cảm thông với nỗi nhọc nhằn và vất vả của mẹ.
=> Học sinh nêu cảm xúc: Xúc động và cảm phục trước tình yêu thương sâu nặng, lòng hiếu thảo và sự nhạy cảm đáng trân trọng của em bé.
– Cảm nhận về đặc sắc nghệ thuật của bài thơ:
+ Ngôn ngữ giản dị, gần gũi, gợi những hình ảnh đời thường ấm áp.
+ Giọng thơ hồn nhiên, trong sáng như lời kể của trẻ nhỏ.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm):
Xác định đúng kiểu bài: Bài văn tự sự.
b. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm):
Xác định đúng yêu cầu của đề: Kể về một lần em vượt qua nỗi sợ của bản thân.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết (3,5 điểm):
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn tự sự:
* Mở bài:
– Giới thiệu khái quát về trải nghiệm của bản thân: Một lần em phải đối mặt với nỗi sợ của bản thân.
– Nêu cảm xúc chung của em về trải nghiệm đó.
* Thân bài: Kể lại chi tiết, cụ thể về trải nghiệm của bản thân bằng cách làm rõ những nội dung sau:
– Trình bày nguồn gốc hoặc lí do khiến bản thân luôn cảm thấy sợ hãi điều đó.
– Kể lại sự việc cụ thể khiến bản thân không thể trốn tránh mà phải trực tiếp đối diện với nỗi sợ.
– Trình bày quá trình đấu tranh tâm lí hoặc hành động để vượt qua nỗi sợ đó.
– Khẳng định kết quả thành công của việc đối mặt với thử thách, nêu cảm xúc của bản thân khi chiến thắng được giới hạn của chính mình.
* Kết bài:
– Khẳng định sự thay đổi tích cực của bản thân sau khi đã vượt qua được nỗi sợ hãi.
– Rút ra bài học sâu sắc về lòng dũng cảm và sự tự tin trong cuộc sống.