Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề tham khảo số 5 SVIP
(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.
CON VẸT NGHÈO
Hằng năm, mỗi khi mùa xuân về, các giống chim và thú vật lại rủ nhau tới rừng mở hội. Nào Voi, Gấu, Hổ, Lợn Lòi... trổ tài thi khoẻ. Nào Khỉ, Vượn, Sóc... đua nhau leo trèo. Còn các giống chim khác thì thi giọng hát.
Trong bầy chim muôn hình ngàn vẻ kia, có chú Vẹt áo đen. Chú ta cũng khấp khởi đi thi. Gặp ai, nó cũng khoe mình có rất nhiều giọng hót. Nhìn thấy Vượn, nó hú tiếng Vượn. Nhác thấy Ếch bì bộp nhảy ra, nó cũng hé mỏ "ộp ộp" luôn. Trên đường đi, gặp Hoạ Mi đang cố luyện giọng, Vẹt tỏ vẻ thương hại. Nó nghĩ: "Việc gì mà phải hót lên hót xuống mãi thế?". Gặp Sáo líu lo khúc hát đồng quê, Vẹt không thèm lắng nghe. Cậy mình biết hót nhiều giọng còn tuyệt vời hơn thế, nên nó huênh hoang lắm. Gặp ai, nó cũng khoe trước:
− Kì thi này, tôi chiếm giải nhất cho mà xem!
Vào cuộc thi, tất cả đều rất vui và cũng rất lo. Sẽ có và đang có ở đây biết bao nhiêu tài năng, chưa thể rõ ai xuất sắc nhất. Bởi thế, loài chim nào cũng yên lặng đợi chờ. Chỉ có Vẹt là cứ lăng xăng, chạy chỗ nọ chỗ kia, làm như mình sắp đoạt giải đến nơi.
Đã tới giờ thi tài. Giám khảo Chim Khuyên và Ếch mời các bạn trong rừng hãy hăng hái ghi tên biểu diễn. Trong lúc chờ đợi xem ai ra trước, Vẹt nhấp nhổm nhưng chưa dám xung phong. Bỗng nghe "quạc quạc", Vẹt quay lại. A, Vịt à? Vịt ra trước à? Thấy vậy, Vẹt ta liền nhảy vào hót lên một chuỗi âm thanh líu ríu. Chim Khuyên nhấc bút định chấm cho Vẹt tám điểm, thì Liếu Điếu kêu:
− Đấy là tiếng hót của tôi!
Ban giám khảo bảo Vẹt hót lại. Vẹt liền đập cánh, vươn cổ gáy một hơi dài. Gà Trống lên tiếng:
− Đấy là tiếng hót của tôi!
Vẹt tức mình, huýt một hồi lanh lảnh. Chích Choè đứng bên cạnh nhận ngay đấy là giọng hót của Chích Choè.
Giám khảo Ếch liền bảo Vẹt hãy hót lên tiếng hót của chính mình. Vẹt nhướn cổ, hú rõ to. Ngay lúc đó, Vượn nhào tới túm lấy Vẹt:
− Sao lại hú tiếng của tớ?
Vẹt hoảng hốt bay lên. Nó không làm sao nghĩ ra cho được tiếng hót của mình nữa. Nó ngượng nghịu nhìn các bạn. Từ xưa đến nay, Vẹt chỉ biết bắt chước, hót theo tiếng hót của người khác mà thôi. Nó hót đấy mà nó không hiểu gì cả. Tới lúc này, nó mới biết là nó rất nghèo. Nó không có tiếng hót riêng...
(Theo Phong Thu, NXB Kim Đồng, 2018, tr.149 − 151)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1. Văn bản "Con Vẹt nghèo" được kể bằng lời của ai?
Câu 2. Nhan đề của văn bản là "Con Vẹt nghèo". Theo em, vì sao Vẹt lại bị coi là "nghèo" trong khi nó có thể hót rất nhiều giọng hót khác nhau?
Câu 3. Vẹt đã làm gì khi tới lượt mình biểu diễn? Vì sao Vẹt lại bị các con vật khác phản đối?
Câu 4. Em hãy so sánh thái độ của Vẹt với các nhân vật khác khi chuẩn bị cho cuộc thi. Qua sự khác biệt đó, tác giả muốn làm nổi bật nét tính cách nào của nhân vật Vẹt? Em có đồng tình với nét tính cách này không? Vì sao?
Câu 5. Những câu văn cuối văn bản là "Tới lúc này, nó mới biết là nó rất nghèo. Nó không có tiếng hót riêng...". Từ nhận thức của Vẹt, em rút ra bài học gì cho việc học tập và rèn luyện của bản thân? (Trình bày ngắn gọn 5 − 7 dòng)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Văn bản "Con Vẹt nghèo" sử dụng ngôi kể thứ ba, người kể giấu mình.
Câu 2. (0,5 điểm)
Vẹt bị coi là "nghèo" vì nó không có bản sắc và giá trị của riêng bản thân mình. Nó chỉ biết bắt chước và làm theo người khác.
Câu 3. (1,0 điểm)
− Khi tới lượt mình biểu diễn, Vẹt không hót tiếng hót của riêng mình mà lần lượt bắt chước tiếng hót của các loài vật khác.
− Vẹt bị các con vật khác phản đối vì:
+ Nó đã vay mượn, sao chép tiếng hót của con vật khác một cách tuỳ tiện.
+ Mỗi tiếng hót đều là nét đặc trưng riêng biệt, niềm tự hào của các con vật khác. Hành động này của Vẹt thể hiện rằng nó không tôn trọng những con vậy khác.
Câu 4. (1,0 điểm)
− Thái độ khác nhau của Vẹt và các nhân vật khác khi chuẩn bị cho cuộc thi:
+ Các nhân vật khác: Chuẩn bị nghiêm túc, chăm chỉ, khiêm tốn. Hoạ Mi "cố luyện giọng", Sáo "líu lo khúc hát đồng quê", các loài chim khác "yên lặng đợi chờ".
+ Vẹt: Chủ quan, kiêu ngạo và lười biếng. Nó "tỏ vẻ thương hại" Hoạ Mi, "không thèm lắng nghe" Sáo, lúc nào cũng "huênh hoang", "lăng xăng" và cho rằng mình chắc chắn đạt giải nhất.
− Qua sự so sánh, tác giả làm nổi bật tính cách kiêu ngạo, huênh hoang của Vẹt.
− Em không đồng tình với nét tính cách này, vì:
+ Sự kiêu ngạo, chủ quan sẽ dẫn đến thất bại.
+ Không nên coi thường sự cố gắng, nỗ lực của người khác.
Câu 5. (1,0 điểm)
− Học sinh trình bày ngắn gọn suy nghĩ của bản thân về bài học mà em rút ra về việc học tập và rèn luyện.
− Gợi ý:
+ Phải tự tin, nỗ lực phát huy những giá trị cá nhân thay vì chạy theo, bắt chước người khác.
+ Cần chăm chỉ học tập, rèn luyện để xây dựng năng lực và giá trị thật sự cho bản thân.
+ Học tập có chắt lọc và sự sáng tạo, không sao chép từ người khác một cách thụ động.
Câu 1. (2,0 điểm) Hãy viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) nêu cảm xúc của em về bài thơ "Mẹ vắng nhà ngày bão" của tác giả Đặng Hiển.
MẸ VẮNG NHÀ NGÀY BÃO
Mấy ngày mẹ về quê
Là mấy ngày bão nổi
Con đường mẹ đi về
Cơn mưa dài chặn lối.
Hai chiếc giường ướt một
Ba bố con nằm chung
Vẫn thấy trống phía trong
Nằm ấm mà thao thức.
Nghĩ giờ này ở quê
Mẹ cũng không ngủ được
Thương bố con vụng về
Củi mùn thì lại ướt.
Nhưng chị vẫn hái lá
Cho thỏ mẹ, thỏ con
Em thì chăm đàn ngan
Sớm lại chiều no bữa
Bố đội nón đi chợ
Mua cá về nấu chua...
Thế rồi cơn bão qua
Bầu trời xanh trở lại
Mẹ về như nắng mới
Sáng ấm cả gian nhà.
(Đặng Hiển)
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn kể về ngày đầu tiên em bước chân vào cổng trường Trung học cơ sở.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.
− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Nêu cảm xúc của em về bài thơ "Mẹ vắng nhà ngày bão" của tác giả Đặng Hiển.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Gợi ý:
– Cảm nhận về đặc sắc nội dung của bài thơ:
+ Cảnh bão và sự thiếu vắng của mẹ:
++ Hình ảnh bão tố "mấy ngày bão nổi", "cơn mưa dài chặn lối" gợi cảm giác nguy hiểm, khó khăn.
++ Ba bố con phải nằm chung trên chiếc giường ướt, dù có sự ấm áp nhưng vẫn thao thức vì nhớ mẹ; gợi sự trống vắng, cô đơn của ba bố con khi thiếu vắng mẹ.
=> Học sinh nêu cảm xúc: Xót xa và lo lắng khi mẹ phải đi xa giữa ngày bão, ba bố con phải tự xoay xở mọi việc trong gian nhà trống vắng, khiến nỗi cô đơn và sự trống trải hiện rõ.
+ Tình thương và sự sẻ chia trong gia đình:
++ Hình ảnh gia đình giản dị nhưng đầy yêu thương và trách nhiệm: Chị hái lá cho thỏ, em chăm đàn ngan, bố đi chợ mua cá.
++ Những hành động nhỏ thể hiện tình cảm gắn bó, sự sẻ chia của cả gia đình.
=> Học sinh nêu cảm xúc: Ấm áp và xúc động vì sự quan tâm, sẻ chia của các thành viên trong gia đình. Những hành động tuy nhỏ nhưng thể hiện được tình cảm gắn bó sâu sắc của cả gia đình.
+ Niềm vui khi mẹ trở về:
++ Sự hạnh phúc, bình yên và ấm áp của gia đình sau cơn bão.
++ Cả nhà đoàn tụ: "Mẹ về như nắng mới / Sáng ấm cả gian nhà.".
=> Học sinh nêu cảm xúc: Vui mừng, tràn đầy yêu thương, cảm nhận rõ sự quan trọng của sự bình yên và hạnh phúc giản dị của gia đình.
– Cảm nhận về đặc sắc nghệ thuật của bài thơ:
+ Hình ảnh sinh động, giản dị mà giàu sức gợi.
+ Ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi, phù hợp với đời sống gia đình.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm):
Xác định đúng kiểu bài: Bài văn tự sự.
b. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm):
Xác định đúng yêu cầu của đề: Kể về ngày đầu tiên em bước chân vào cổng trường Trung học cơ sở.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết (3,5 điểm):
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn tự sự:
* Mở bài:
– Giới thiệu thời gian, địa điểm của ngày đầu tiên em vào trường Trung học cơ sở.
– Nêu cảm xúc chủ đạo của em về ngày đầu tiên vào học trường Trung học cơ sở.
* Thân bài: Kể lại chi tiết, cụ thể về trải nghiệm của bản thân bằng cách làm rõ những nội dung sau:
– Giai đoạn chuẩn bị: Tâm trạng và việc chuẩn bị sách vở, quần áo trước khi đến trường.
– Trên đường và khi đến cổng trường: Cảnh vật xung quanh, hình ảnh ngôi trường mới và cảm xúc lúc bước qua cánh cổng.
– Diễn biến buổi đầu tại trường Trung học cơ sở: Không khí sân trường, các hoạt động chính, việc làm quen với những người bạn mới,...
– Kể lại một khoảnh khắc khiến em ấn tượng nhất trong buổi học đó.
* Kết bài:
– Khẳng định giá trị của ngày đầu tiên đối với sự trưởng thành của bản thân.
– Thể hiện tình cảm dành cho ngôi trường mới và mục tiêu phấn đấu trong năm học này.