Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề tham khảo số 4 SVIP
(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.
CÂY TRE TRĂM ĐỐT
Ngày xưa, ở làng kia có một lão nhà giàu. Lão thuê một anh nông dân nghèo, khoẻ mạnh để cày ruộng cho lão. Lão nhà giàu nhiều thóc, nhiều tiền nhưng tính tình lại keo kiệt. Lão rất sợ phải trả tiền công cày cho anh nông dân, vì thế lão suy tính ngày đêm. Cuối cùng thì lão đã nghĩ ra một kế để lừa anh. Lão nhà giàu cho gọi anh nông dân đến và dỗ dành:
– Anh chịu khó cày ruộng cho ta trong ba năm. Hết thời gian đó, ta sẽ cho anh cưới con gái ta.
Anh nông dân thật thà tin ngay vào lời của lão. Hết vụ lúa mùa đến vụ lúa chiêm, không quản nắng mưa, sương gió, anh chăm chỉ cày bừa trên cánh đồng của lão nhà giàu. Mỗi mùa gặt, anh thu về cho lão ta rất nhiều thóc lúa. Nhà lão đã giàu lại càng giàu hơn nữa.
Thấm thoắt ba năm đã trôi qua, thời hạn làm thuê của anh nông dân cũng đã hết. Lão nhà giàu không muốn cho anh nông dân nghèo khổ cưới con gái của mình, lão lại tìm mưu kế để đánh lừa anh. Lão nhà giàu gọi anh đến và bảo:
– Con ơi, bấy lâu nay con đã chăm chỉ làm việc, ta sẽ cho con cưới con gái ta. Bây giờ, con phải vào rừng tìm cho được cây tre trăm đốt, đem về đây để làm đũa cho cả làng ăn cỗ cưới.
Anh nông dân thật thà, vác dao đi ngay vào rừng để chặt tre.
Đợi anh nông dân đi khỏi làng, lão nhà giàu bèn gả con gái lão cho một tên nhà giàu khác ở trong làng. Lão cho giết bò, giết lợn, nấu xôi, mở rượu làm cỗ cưới thật là linh đình.
Trong khi lão nhà giàu làm cỗ thì anh nông dân một mình lang thang trong rừng. Anh ngả hết cây tre này đến cây tre khác. Anh cẩn thận đếm từng đốt trên các cây tre nhưng chẳng cây nào có đủ một trăm đốt. Vẫn chưa nản lòng, anh lại tìm đến bụi tre già, anh cố chặt một cây cao nhất, mặc cho gai làm rách cả áo, xước cả da, cây tre đổ xuống, anh đếm đi, đếm lại vẫn chỉ có hơn bốn mươi đốt. Anh buồn quá, ngồi bên đống tre đốn dở và khóc. Bỗng nhiên anh thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào khoan thai đi đến, ông lão hỏi anh:
– Làm sao cháu khóc?
Anh lễ phép thưa rõ đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong ông lão nói:
– Cháu hãy đi chặt cho đủ một trăm đốt tre mang lại đây, ông sẽ giúp cháu.
Anh nông dân mừng quá, liền chặt đủ một trăm đốt tre đem đến cho ông lão. Ông lão chỉ tay vào đống tre và bảo anh đọc "Khắc nhập, khắc nhập" ba lần. Lạ thay, anh vừa đọc xong thì một trăm đốt tre dính liền lại với nhau thành một cây tre dài trăm đốt. Ông lão căn dặn anh:
– Cháu không thể vác cây tre này về nhà được vì nó quá dài cháu ạ. Cháu hãy đọc ba lần câu "Khắc xuất, khắc xuất", các đốt tre sẽ rời ra như cũ. Cháu hãy bó lại và đem về nhà.
Anh nông dân chưa kịp cảm ơn ông lão thì ông lão đã biến mất. Anh đành vác hai bó tre đi về làng.
Về tới nơi, thấy mọi người đang ăn uống vui vẻ, anh nông dân mới biết lão nhà giàu đã lừa dối anh. Anh lẳng lặng để bó tre ngoài sân rồi vào nhà gọi lão nhà giàu ra nhận. Lão nhà giàu không thấy tre, mà chỉ thấy toàn là đốt tre. Lão cười bảo anh:
– Tao bảo mày chặt đem về một cây tre có trăm đốt, chứ có bảo mày đem về một trăm đốt tre đâu?
Chẳng cần trả lời lão, anh lẩm nhẩm đọc "Khắc nhập, khắc nhập" ba lần, tức thì các đốt tre dính liền lại thành cây tre. Lão nhà giàu nhìn thấy lạ quá, bèn chạy lại sờ tay vào cây tre. Anh nông dân thấy vậy đọc luôn "Khắc nhập, khắc nhập", lão nhà giàu bị dính ngay vào cây tre, không có cách nào gỡ ra được. Thấy vậy mấy tên nhà giàu khác chạy tới định gỡ cho lão, anh nông dân lại đọc "Khắc nhập, khắc nhập" thế là cả bọn lại bị dính hết vào cây tre. Lão nhà giàu ra sức van xin anh, lão hứa sẽ cho anh cưới ngay con gái lão và từ nay về sau không dám bày mưu lừa gạt anh nữa. Lúc bấy giờ anh nông dân mới khoan thai đọc "Khắc xuất, khắc xuất" ba lần, tức thì cả bọn nhà giàu rời ra khỏi cây tre. Anh nông dân cưới cô con gái lão nhà giàu làm vợ và hai người sống bên nhau rất hạnh phúc.
(Trích Truyện dân gian Việt Nam, NXB Kim Đồng)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1. Văn bản "Cây tre trăm đốt" thuộc thể loại nào?
Câu 2. Chỉ ra nhân vật thuộc tuyến nhân vật phản diện của văn bản "Cây tre trăm đốt".
Câu 3. Hãy chỉ ra các chi tiết hoang đường, kì ảo được sử dụng trong văn bản. Theo em, các chi tiết hoang đường, kì ảo trong văn bản có vai trò gì?
Câu 4. Nhân vật anh nông dân trong văn bản có những phẩm chất gì đáng quý? Phẩm chất đó được thể hiện qua những chi tiết nào?
Câu 5. Qua nội dung câu chuyện, tác giả dân gian muốn gửi gắm ước mơ gì? Trình bày ngắn gọn suy nghĩ của em về ước mơ đó trong khoảng 5 − 7 dòng.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Văn bản "Cây tre trăm đốt" thuộc thể loại truyện cổ tích.
Câu 2. (0,5 điểm)
Nhân vật thuộc tuyến nhân vật phản diện trong văn bản "Cây tre trăm đốt" là lão nhà giàu.
Câu 3. (1,0 điểm)
Những chi tiết hoang đường, kì ảo trong văn bản:
− Sự xuất hiện của ông lão (Bụt) với "đầu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào" để giúp đỡ anh nông dân khi anh đang khóc vì tuyệt vọng.
− Câu thần chú "Khắc nhập, khắc nhập" có khả năng làm cho một trăm đốt tre dính liền lại với nhau thành một cây tre hoàn chỉnh.
− Câu thần chú "Khắc xuất, khắc xuất" có khả năng làm cho cây tre trăm đốt tách rời ra như cũ.
Tác dụng của những chi tiết hoang đường, kì ảo trong văn bản:
− Giúp cho câu chuyện trở nên cuốn hút và hấp dẫn người đọc, người nghe hơn.
− Thể hiện ước mơ về công lí, về xã hội công bằng mà ở đó cái thiện luôn chiến thắng cái ác.
− Thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, giúp giải quyết mâu thuẫn chính của truyện.
Câu 4. (1,0 điểm)
Những phẩm chất đáng quý của nhân vật anh nông dân:
− Cần cù, chăm chỉ: Anh làm việc quần quật cho lão nhà giàu suốt ba năm, "không quản nắng mưa, sương gió".
− Thật thà, chất phác: Anh tin lời nói của lão nhà giàu, bị lừa hết lần này đến lần khác mà không hề nghi ngờ. Khi được giao nhiệm vụ vào rừng tìm tre trăm đốt, anh cũng vác dao đi ngay.
Câu 5. (1,0 điểm)
− Học sinh trình bày ngắn gọn suy nghĩ của bản thân về thông điệp mà bản thân rút ra từ văn bản.
− Gợi ý:
+ Ước mơ về một xã hội công bằng, nơi những người lao động hiền lành thật thà không phải chịu bất công, lừa dối.
+ Ước mơ có sức mạnh thần kì để chống lại cái ác, cái bất công trong xã hội.
Câu 1. (2,0 điểm) Hãy viết đoạn văn ngắn (khoảng 150 chữ) nêu cảm xúc của em về bài thơ "Tình mẹ" của tác giả Tử Nhi.
TÌNH MẸ
(Trích)
Thời gian nhẹ bước mỏi mòn
Xin đừng bước lại để còn mẹ đây
Bao nhiêu gian khổ tháng ngày
Xin cho con lãnh, kẻo gầy mẹ thêm
Mẹ ơi, xin bớt muộn phiền
Con xin sống đẹp như niềm mẹ mong
Tình mẹ hơn cả biển đông
Dài, sâu hơn cả con sông Hồng Hà
(Tử Nhi)
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn thuyết minh về lễ hội Trung thu mà em đã được tham gia tại địa phương hoặc trường học.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.
− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Thể hiện cảm xúc về bài thơ "Tình mẹ" của tác giả Tử Nhi.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Gợi ý:
– Tình yêu thương tha thiết với ước nguyện chân thành của người con dành cho mẹ:
+ Người con bày tỏ nỗi lo âu trước bước đi của thời gian, mong thời gian trôi chậm lại để mẹ còn ở bên mình lâu hơn: "Thời gian nhẹ bước mỏi mòn/ Xin đừng bước lại để còn mẹ đây". Lời thơ như một lời khẩn cầu, thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng và nỗi sợ mất mát của người con trước sự hữu hạn của đời người.
+ Người con sẵn sàng nhận về mình mọi nhọc nhằn, gian khổ để mẹ được bình yên, khoẻ mạnh: "Bao nhiêu gian khổ tháng ngày/ Xin cho con lãnh, kẻo gầy mẹ thêm". Đây là biểu hiện rõ nét của tình yêu thương, sự hiếu thảo và lòng biết ơn của người con dành cho mẹ của mình.
➞ Học sinh nêu cảm xúc: Xúc động trước tấm lòng yêu thương, hiếu thảo của người con; cảm nhận được tình mẫu tử sâu nặng được thể hiện qua ước nguyện giản dị mà chân thành của người con.
– Tình mẹ trở thành điểm tựa tinh thần, nuôi dưỡng nhân cách và lối sống của người con:
+ Từ sự thấu hiểu những nhọc nhằn của mẹ, người con cất lên lời an ủi đầy yêu thương: "Mẹ ơi, xin bớt muộn phiền". Đó là tiếng lòng xuất phát từ nỗi xót xa của người con trước cuộc đời vất vả, nhiều lo toan của mẹ mình.
+ Ý thức về công ơn sinh thành đã thôi thúc người con có ý thức phấn đấu, rèn luyện để sống tốt, sống đẹp, không làm phụ lòng mẹ: "Con xin sống đẹp như niềm mẹ mong". Tình mẹ ở đây không chỉ là tình cảm yêu thương mà còn là động lực để người con tự nuôi dưỡng nhân cách.
+ Người con cảm nhận được sự lớn lao, bền vững của tình mẹ, một tình yêu vượt mọi giới hạn của không gian và thời gian: "Tình mẹ hơn cả biển đông/ Dài, sâu hơn cả con sông Hồng Hà". Hình ảnh so sánh ấy khép lại mạch cảm xúc bằng sự ngưỡng vọng, tôn vinh tình mẫu tử.
➞ Học sinh nêu cảm xúc: Cảm nhận được tình mẹ không chỉ là tình yêu thương mà còn là nguồn sức mạnh tinh thần nâng đỡ con người; từ đó thêm trân trọng, biết ơn và có ý thức sống tốt, sống đẹp hơn.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm):
Xác định đúng kiểu bài: Bài văn thuyết minh.
b. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm):
Xác định đúng yêu cầu của đề: Thuyết minh về lễ hội Trung thu mà em đã được tham gia tại địa phương hoặc trường học.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết (3,5 điểm):
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn thuyết minh:
* Mở bài:
– Giới thiệu khái quát về tên lễ hội.
– Nêu khái quát về mục đích và không khí chung của lễ hội Trung thu.
* Thân bài: Thuật lại lại chi tiết, cụ thể về sự kiện mà bản thân được tham gia bằng cách làm rõ những nội dung sau:
– Thời gian, địa điểm diễn ra lễ hội.
– Thuật lại chi tiết các hoạt động chính trong lễ hội đó: Các màn biểu diễn, các hoạt động rước đèn, phá cỗ,…
– Thuật lại không khí và các hình ảnh khiến em ấn tượng nhất trong sự kiện.
– Nêu cảm xúc, suy nghĩ của bản thân em về lễ hội Trung thu đó.
* Kết bài:
– Nêu cảm nghĩ của em về lễ hội Trung thu.
– Khẳng định ý nghĩa của lễ hội đối với cá nhân em và các bạn thiếu nhi nói chung.