Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề số 7 SVIP
(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.
THẦY GIÁO DẠY VẼ CỦA TÔI
(Trích)
Xuân Quỳnh
Tôi muốn kể với các em về thầy giáo dạy vẽ của tôi. Thầy dạy chúng tôi cách đây mười bảy năm, khi đó chúng tôi mới học lớp Năm mà thầy thì mái tóc đã bạc phơ…
[…] Thầy ăn mặc theo kiểu xưa: bộ com-lê đen đã cũ lắm, nhưng chiếc ca-vát vẫn luôn thắt chỉnh tề trên cổ. Thầy thường đội mũ nồi, bộ râu mép rậm lấm tấm bạc, đôi giày cũ và chiếc cặp da nâu cũng đã sờn rách.
Thầy luôn đăm chiêu nhưng hiền hậu. Chẳng bao giờ thầy cáu giận, gắt gỏng với chúng tôi. Cũng chẳng bao giờ thầy bỏ một tiết lên lớp nào, kể cả những hôm thầy yếu mệt, sốt cao, giọng run run.
Các cô giáo, thầy giáo trong trường kể rằng thầy là một trong số những hoạ sĩ học khoá đầu tiên của Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương. Bạn học của thầy, hầu hết đều đã trở thành những hoạ sĩ tên tuổi, có người nổi tiếng cả ở nước ngoài, riêng thầy Bản chỉ là một giáo viên dạy vẽ bình thường ở một trường cấp hai.
Thầy dạy chúng tôi kẻ chữ, vẽ cái sọt giấy, lọ mực, viên gạch, thỉnh thoảng mới có một bài "vẽ tự do": cảnh chùa hoặc cảnh lao động ở vườn trường. Thầy dạy rất ân cần, tỉ mỉ, chỉ bảo cho chúng tôi từng li từng tí: cách tô màu, đánh bóng, cả cách gọt bút chì thế nào cho đẹp và dễ vẽ. Nhưng thú vị hơn cả là những câu chuyện của thầy. Thầy thường nói say sưa với chúng tôi về hội hoạ, về màu sắc và đường nét, về cái thế giới thứ hai, thế giới rực rỡ, kì lạ của những bức tranh, những cánh cửa mở tới những khu vườn tốt lành và đẹp đẽ. Có những lần, thầy đưa chúng tôi về nhà thầy chơi, về gian gác xếp đầy sách vở và tranh ảnh. Thầy đưa chúng tôi xem những quyển sách của các bậc danh hoạ. Thầy cũng cho chúng tôi xem những bức tranh thầy vẽ những bức tranh nhỏ, vẽ rất tỉ mỉ những bình hoa nhiều màu, những ngôi nhà, những em bé hàng xóm… Thầy vẽ chậm, vẽ kĩ, không hiểu có đẹp không, nhưng tranh của thầy ít được mọi người chú ý. Chúng tôi có đi hỏi nhưng chẳng mấy ai biết tên hoạ sĩ Nguyễn Thừa Bản.
(Trần Hoài Dương tuyển chọn, Tuyển tập truyện ngắn hay Việt Nam dành cho thiếu nhi, tập 5, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2016, tr. 178 – 180)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì?
Câu 2. Hãy chỉ ra một số chi tiết cho thấy thầy giáo rất chăm chỉ, tận tuỵ với công việc giảng dạy.
Câu 3. Tìm một số chi tiết miêu tả trang phục của thầy giáo dạy vẽ. Những chi tiết đó cho em cảm nhận gì về nhân vật?
Câu 4. Văn bản sử dụng ngôi kể nào? Nêu tác dụng của việc sử dụng ngôi kể ấy trong văn bản.
Câu 5. Từ hình ảnh thầy giáo dạy vẽ, em rút ra bài học gì về thái độ học tập và lòng biết ơn thầy cô? (Trình bày khoảng 5–7 dòng)
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (0,5 điểm).
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Tự sự.
Câu 2 (0,5 điểm).
Chi tiết cho thấy thầy chăm chỉ và tận tuỵ: (Học sinh chỉ cần chỉ một chi tiết)
− Chẳng bao giờ thấy thầy bỏ một tiết lên lớp nào.
− Dạy học ân cần, tỉ mỉ, chỉ bảo từng li từng tí (từ cách tô màu đến cách gọt bút chì).
Câu 3 (1,0 điểm).
− Một số chi tiết miêu tả trang phục của thầy giáo dạy vẽ: Thầy ăn mặc theo kiểu xưa: bộ com-lê đen đã cũ lắm, nhưng chiếc ca-vát vẫn luôn thắt chỉnh tề trên cổ. Thầy thường đội mũ nồi, bộ râu mép rậm lấm tấm bạc, đôi giày cũ và chiếc cặp da nâu cũng đã sờn rách.
− Cảm nhận về nhân vật: Thầy là người có lối sống giản dị, khiêm nhường, điều kiện vật chất có thể thiếu thốn nhưng tâm hồn luôn thanh cao và đặc biệt rất tôn trọng nghề nghiệp, tôn trọng học sinh qua vẻ ngoài chỉn chu, chỉnh tề.
Câu 4 (1,0 điểm).
− Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất (người kể chuyện xưng "tôi").
− Tác dụng:
+ Giúp câu chuyện được kể bằng giọng kể chân thành, gần gũi, giàu cảm xúc, thể hiện tình cảm kính trọng, biết ơn và yêu mến của người học trò dành cho thầy giáo.
+ Làm cho nhân vật thầy giáo hiện lên sinh động, chân thực hơn qua cái nhìn và cảm nhận trực tiếp của người học trò.
+ Giúp người đọc dễ đồng cảm với những kỉ niệm, cảm xúc của nhân vật "tôi" về người thầy.
Câu 5 (1,0 điểm).
Học sinh trình bày bài học của bản thân về thái độ học tập và lòng biết ơn thầy cô. Gợi ý:
− Cần có sự tỉ mỉ, kiên trì và lòng say mê đối với kiến thức, dù là những điều nhỏ bé nhất.
− Cần kính trọng, biết ơn những người thầy, người cô đã tận tuỵ vì học trò.
− Cần sống lễ phép, cố gắng học tập tốt để đáp lại công ơn dạy dỗ ấy.
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật thầy giáo trong văn bản "Thầy giáo dạy vẽ của tôi".
Câu 2. (4,0 điểm) Từ hình ảnh người thầy trong văn bản, em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn luận về ý nghĩa của sự cống hiến thầm lặng trong cuộc sống.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích nhân vật thầy giáo trong văn bản "Thầy giáo dạy vẽ của tôi".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Gợi ý:
– Vẻ ngoài giản dị và phong thái đĩnh đạc:
+ Thầy xuất hiện với bộ com-lê cũ, đôi giày sờn và cặp da rách. Tuy nhiên, chiếc ca-vát luôn thắt "chỉnh tề".
+ Sự đối lập giữa hoàn cảnh vật chất thiếu thốn và vẻ ngoài tươm tất cho thấy lòng tự trọng và sự tôn nghiêm của một người thầy. Thầy không màng hào nhoáng nhưng rất coi trọng tác phong nhà giáo trước học trò.
– Sự tận tuỵ và tâm huyết với công việc:
+ Thầy không bao giờ bỏ tiết, ngay cả khi sốt cao, giọng run rẩy thầy vẫn đứng trên bục giảng. Thầy dạy học trò tỉ mỉ từng chi tiết nhỏ nhất như cách gọt bút chì, cách tô màu.
+ Thầy là biểu tượng của tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nghề. Thầy coi việc dạy vẽ không chỉ là truyền thụ kỹ năng mà là uốn nắn học trò từ những thói quen nhỏ nhất, thể hiện sự ân cần và kiên nhẫn vô hạn.
– Tâm hồn nghệ sĩ và khả năng truyền cảm hứng:
+ Thầy say sưa nói về hội hoạ như một "thế giới thứ hai", mở ra những "khu vườn tốt lành" cho học sinh. Tranh thầy vẽ những điều bình dị (bình hoa, em bé hàng xóm) nhưng rất tinh tế và kĩ lưỡng.
+ Dù không phải hoạ sĩ nổi tiếng như bạn bè cùng lứa, thầy Bản vẫn có một thế giới nội tâm vô cùng phong phú và rạng rỡ. Thầy không chỉ dạy vẽ mà còn gieo vào lòng học trò tình yêu cái Đẹp và niềm tin vào sự thiện lương của cuộc đời.
→ Thầy đại diện cho những con người cống hiến âm thầm. Sự vĩ đại của thầy không nằm ở danh hiệu hoạ sĩ nổi tiếng mà nằm ở việc thầy đã hoàn thành xuất sắc vai trò "người lái đò", thầm lặng toả hương và để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn bao thế hệ học sinh.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Bàn luận về ý nghĩa của sự công hiến thầm lặng trong cuộc sống.
c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:
HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
c1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
c2. Thân bài:
* Giải thích được vấn đề: "Cống hiến thầm lặng" là làm những việc có ích cho xã hội, cộng đồng bằng tất cả tâm huyết mà không phô trương, không đòi hỏi sự tung hô hay trả ơn.
* Biết phân tích làm sáng tỏ vấn đề:
– Ý nghĩa to lớn của sự cống hiến thầm lặng:
+ Tạo ra những giá trị thực chất và bền vững: Giống như thầy Bản, sự tận tuỵ của thầy đã mở ra "những cánh cửa khu vườn tốt lành" cho tâm hồn trẻ thơ. Những giá trị tinh thần này quý giá hơn mọi danh tiếng nhất thời.
+ Duy trì sự vận hành và tốt đẹp của xã hội: Thế giới không chỉ cần những ngôi sao rực rỡ mà cần vô số những con người bình thường làm tốt công việc của mình (người lao công, người chiến sĩ biên phòng, những thầy cô giáo vùng sâu vùng xa,...).
+ Lan toả vẻ đẹp của sự tử tế: Sự thầm lặng cho thấy một nhân cách cao thượng, không vụ lợi, giúp những người khác tin vào những giá trị nhân văn đích thực.
+ Làm vấy bẩn đạo đức xã hội: Tạo ra một cộng đồng đa nghi, tàn nhẫn và thiếu lòng tin. Khi đám đông hùa theo tin đồn, họ đã vô tình đánh mất đi sự thấu cảm và lòng nhân ái.
+ Đối với cá nhân người sống cống hiến: Giúp họ sống có ý nghĩa và có mục đích, mang lại niềm vui và sự thanh thản trong tâm hồn.
– Bình luận và mở rộng:
+ Trong xã hội hiện đại, nhiều người chạy theo sự nổi tiếng ảo, hào quang bề ngoài mà quên đi giá trị của lao động chân chính và âm thầm.
+ Cống hiến thầm lặng không có nghĩa là tự ti hay thấp kém. Đó là sự lựa chọn lối sống thanh cao, biết hạnh phúc với những gì mình đóng góp (thầy Bản say sưa nói về hội hoạ dù ít người biết tên thầy).
* Đưa ra bài học nhận thức và hành động:
– Nhận thức: Cần có cái nhìn trân trọng, thấu cảm đối với những đóng góp ít người biết đến. Đừng chỉ nhìn vào bề nổi để đánh giá sự thành công của một con người.
– Hành động:
+ Biết ơn những người thầy, người lao động đang thầm lặng phục vụ cuộc sống.
+ Rèn luyện tinh thần trách nhiệm, làm tốt công việc của mình ngay cả khi không có ai quan sát hay khen ngợi.
c3. Kết bài: Rút ra thông điệp rằng: Hãy sống và cống hiến như những đoá hoa rừng, lặng lẽ toả hương để cuộc đời thêm ngát thơm.