Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề số 6 SVIP
(4,0 điểm) Đọc văn bản sau.
BÀ BÁN BỎNG CỔNG TRƯỜNG TÔI
(Lược trích một đoạn: Trước cổng trường nhân vật tôi có bà bán bỏng tóc bạc phơ, lưng còng, rất hiền hậu. Bà bán hàng thường thêm bỏng cho lũ trẻ nên đứa nào cũng thích mua hàng của bà. Một hôm, thằng Tòng béo lớp tôi phao tin đồn là bà bán bỏng bị ho lao, có thể lây nhiễm. Thế là bọn bạn lớp tôi không còn ra mua hàng cho bà như trước. Tin đó truyền đi khắp trường, hàng bỏng của bà bị ế đến mấy ngày không bán nổi. Thế rồi bà không bán bỏng ở cổng trường nữa. Tôi và lũ bạn cũng chẳng ai nhớ tới bà, chúng tôi chuyển sang mua ô mai, táo dầm.)
Một hôm mẹ tôi sai tôi ra chợ mua mớ rau. Tôi bỗng gặp bà bán bỏng, trông bà gầy nhiều, lưng còng hẳn xuống, quần áo rách rưới, bà chống gậy và đeo một cái bị đi vào hàng cơm, bà lấy trong bị ra một cái bánh mì khô và nói gì nho nhỏ với bà hàng cơm, nghe không rõ. Tôi chỉ nghe tiếng quát mắng to tướng của bà hàng cơm:
– Nướng nhanh lên mà đi cho khuất mắt. Trông người chả ra người, như con gà rù thế kia mà ám hàng người ta thì làm sao người ta bán được…
Bà bán bỏng lật đật đến gần bếp lò run rẩy nhét cái bánh mì vào phía dưới lò. Chứng kiến tất cả cái cảnh ấy, tự nhiên tôi thấy thương bà quá. Tôi chạy lại gần bà, ấn vội vào tay bà số tiền mẹ tôi đưa mua rau rồi chạy vụt về. Tôi về nhà kể lại với mẹ mọi việc, mẹ tôi không mắng tôi về việc ấy mà lại trách tôi chuyện khác kia. Mẹ bảo:
– Con giúp đỡ người nghèo là đúng, nhưng con thử nghĩ xem, với số tiền mua rau ấy bà già chỉ sống được một bữa, còn bữa sau thì sao? Đáng lẽ trước kia con và các bạn con đừng tung cái tin "bà bán bỏng ho lao" ra thì chắc bà vẫn sống được tử tế. Đằng này, vô tình con và các bạn con đã hại bà ấy. Các con chưa hiểu được đâu. Chưa hiểu được một người già mà phải đói khát thì khổ đến thế nào…
Mẹ còn nói nhiều nhiều nữa nhưng thấy tôi rân rấn nước mắt nên mẹ thôi. Mẹ lại đưa tiền cho tôi đi mua rau.
Hôm sau đến lớp tôi kể cho các bạn nghe mọi sự việc, kể cả chuyện mẹ tôi đã mắng tôi như thế nào. Các bạn nghe mà ai cũng bùi ngùi cảm thấy mình có lỗi, bỗng có bạn lên tiếng:
– Thế ai bảo cậu Tòng là bà ấy ho lao?
– Ai bảo? Ai bảo?... – Tất cả nhao lên như muốn lên án Tòng.
– Tớ cũng chẳng nhớ. – Tòng trả lời yếu ớt. – Tớ nghe thấy thế.
– Cậu nghe chưa chính xác mà đã nói. Cậu ác thế! Ác thế!
– Khổ thân bà ấy. – Một bạn nói. – Làm thế nào để giúp bà ấy bây giờ? Hay là góp tiền lại đem cho bà ấy.
– Làm thế chẳng được đâu. – Tôi nói. – Mẹ tớ bảo là khi bà ấy ăn hết số tiền mình cho thì bà ấy lại đói. Hay là khi nào tớ gặp bà ấy tớ sẽ bảo: "Bà cứ bán bỏng đi chúng cháu lại mua cho bà.". Mà tất cả chúng mình phải mua của bà ấy kia, bảo cả bọn lớp khác nữa.
– Ừ, phải đấy! – Một bạn nói. – Tất cả chúng mình đều mua.
– Tất cả.
– Tất cả. – Các bạn đồng thanh tán thành. Có bạn lại còn đề ra mình sẽ ăn sáng bằng bỏng.
(Theo Xuân Quỳnh, Trời xanh của mỗi người, NXB Kim Đồng, 2017, tr.99 – 106)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Văn bản "Bà bán bỏng cồng trường tôi" sử dụng ngôi kể nào?
Câu 2. Theo văn bản, vì sao bà cụ không còn bán bỏng ở cổng trường nữa?
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của phép liệt kê trong câu văn sau:
Tôi bỗng gặp bà bán bỏng, trông bà gầy nhiều, lưng còng hẳn xuống, quần áo rách rưới, bà chống gậy và đeo một cái bị đi vào hàng cơm, bà lấy trong bị ra một cái bánh mì khô và nói gì nho nhỏ với bà hàng cơm, nghe không rõ.
Câu 4. Nhận xét về nhân vật "tôi" trong văn bản trên.
Câu 5. Trong cuộc sống, hẳn ai cũng từng gặp sai lầm giống như "tôi" và các bạn trong văn bản trên. Theo em, sau mỗi sai lầm, vấp ngã, con người cần có thái độ, cách ứng xử ra sao? (Trả lời bằng đoạn văn 5 đến 7 dòng)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất.
Câu 2. (0,5 điểm) Theo văn bản, bà cụ không còn bán bỏng ở cổng trường nữa vì có tin đồn thất thiệt do bạn Tòng tung ra rằng bà bị ho lao, có thể lây nhiễm. Tin đồn ấy khiến học sinh trong trường sợ hãi, không ai dám mua bỏng của bà, hàng bị ế suốt nhiều ngày. Do vậy, bà phải nghỉ bán và rời khỏi cổng trường.
Câu 3. (1,0 điểm)
– Phép liệt kê: bà gầy nhiều, lưng còng hẳn xuống, quần áo rách rưới, bà chống gậy, đeo một cái bị đi vào hàng cơm, bà lấy trong bị ra một cái bánh mì khô và nói gì nho nhỏ với bà hàng cơm
– Tác dụng:
+ Giúp cho diễn đạt trở nên giàu hình ảnh hơn.
+ Gợi tả dáng vẻ già nua, khổ hạnh, tiều tụy, đáng thương của bà bán bỏng.
+ Thể hiện sự thương cảm, xót xa của nhân vật "tôi" với bà bán bỏng.
Câu 4. (1,0 điểm) Nhận xét về nhân vật "tôi" trong văn bản:
– Có tấm lòng nhân hậu, biết yêu thương, giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn.
– Biết nhận ra lỗi lầm sau khi cùng các bạn tung tin bà bản bỏng bị ho lao.
– Có trách nhiệm khắc phục lỗi lầm mình mắc phải.
Câu 5. (1,0 điểm) HS cần đảm bảo những yêu cầu sau:
– Hình thức: Đoạn văn có dung lượng 5 đến 7 dòng.
– Nội dung: Tập trung nêu quan điểm về thái độ, cách ứng xử mỗi khi sai lầm, vấp ngã, sau đây là một số gợi ý:
+ Dám đối diện, thừa nhận lỗi lầm, không đổ lỗi cho người khác.
+ Biết rút kinh nghiệm, tìm nguyên nhân để không lặp lại sai lầm.
+ Giữ tinh thần lạc quan, ý chí vươn lên sau vấp ngã.
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đặc sắc nội dung của văn bản "Bà bán bỏng cổng trường tôi".
Câu 2. (4,0 điểm) Trong truyện ngắn "Bà bán bỏng cổng trường tôi", tin đồn vô căn cứ của các bạn nhỏ đã đẩy bà cụ vào cảnh nghèo đói, khổ cực. Từ câu chuyện trên, em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về tác hại của những lời đồn thổi vô căn cứ.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích đặc sắc nội dung của văn bản "Bà bán bỏng cổng trường tôi".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Gợi ý:
– Hình ảnh bà bán bỏng – số phận nghèo khổ, đáng thương:
+ Vẻ ngoài: Tóc bạc phơ, lưng còng, quần áo rách rưới, chống gậy bước đi run rẩy.
+ Tính cách: Rất hiền hậu, hay thêm bỏng cho lũ trẻ (một hành động hào phóng của người nghèo).
+ Hoàn cảnh cùng cực: Khi bị tung tin đồn thất thiệt, bà mất kế sinh nhai, bà bị đẩy vào cảnh đi xin bánh mì khô, bị bà hàng cơm mắng chửi thậm tệ là "con gà rù", bị xua đuổi như một sự ám quẻ.
→ Bà là hình ảnh tiêu biểu cho những người già yếu, nghèo khổ trong xã hội, sống lương thiện nhưng phải đối diện với sự bất hạnh và sự rẻ khinh của người đời.
– Thái độ của lũ trẻ – sự vô tâm và hậu quả nghiêm trọng:
+ Hành động: Nghe theo lời đồn chưa kiểm chứng ("bà bị ho lao") của Tòng, cả trường đồng loạt tẩy chay bà. Đây là sự vô tâm bộc phát của lứa tuổi học trò (ngây thơ, thiếu suy nghĩ sâu sắc), chạy theo hiệu ứng đám đông mà không suy nghĩ kĩ đến hậu quả và những tổn thương của người khác.
+ Chính sự thờ ơ này đã trực tiếp cướp đi phương kế sinh nhai duy nhất của bà, biến một người lao động tử tế thành người ăn xin đói khát. Lời đồn "vô hại" của trẻ con đã trở thành "vũ khí" tàn nhẫn huỷ hoại cuộc đời một con người.
– Sự thức tỉnh của nhân vật "tôi" và các bạn:
+ Nhân vật "tôi" chứng kiến cảnh bà bị nhục mạ và nghe lời giáo dục thấm thía của mẹ: "Đáng lẽ con và các bạn đừng tung tin... thì chắc bà vẫn sống được tử tế.".
+ "Tôi" và các bạn không còn đổ lỗi cho nhau mà cùng bùi ngùi, hối lỗi. Họ nhận ra cho tiền chỉ là giải pháp tạm thời, giúp bà có lại công việc mới là giải pháp bền vững. Cả lớp đồng lòng kêu gọi nhau mua bỏng cho bà, thậm chí dùng tiền ăn sáng để ủng hộ.
→ Sự thức tỉnh này cho thấy lòng trắc ẩn và sự lương thiện vẫn luôn hiện hữu trong tâm hồn trẻ thơ, khi được định hướng đúng đắn, các em đã biết chịu trách nhiệm về lỗi lầm của mình.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Bàn luận về tác hại của những lời đồn thổi vô căn cứ.
c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:
HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
c1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.
c2. Thân bài:
* Giải thích được vấn đề: "Lời đồn thổi vô căn cứ" là những thông tin chưa được kiểm chứng, sai sự thật hoặc bị bóp méo, thường lan truyền nhanh trong đám đông.
* Biết phân tích làm sáng tỏ vấn đề:
– Tác hại của những lời đồn thổi vô căn cứ:
+ Huỷ hoại danh dự và cuộc sống của người khác: Giống như bà cụ trong truyện, từ một người bán hàng, bà mất đi phương kế sinh nhai, bị nhục mạ và rơi vào cảnh khốn cùng.
+ Gây ra sự hiểu lầm và chia rẽ: Lời đồn làm rạn nứt niềm tin giữa người với người, khiến đám đông trở nên tàn nhẫn (các bạn nhỏ tẩy chay bà cụ).
+ Hậu quả khôn lường: Đôi khi tin đồn không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà còn dẫn đến những bi kịch tâm lí, thậm chí là tính mạng của nạn nhân.
+ Làm vấy bẩn đạo đức xã hội: Tạo ra một cộng đồng đa nghi, tàn nhẫn và thiếu lòng tin. Khi đám đông hùa theo tin đồn, họ đã vô tình đánh mất đi sự thấu cảm và lòng nhân ái.
+ …
– Bằng chứng:
+ Từ câu chuyện trong văn bản: Tin đồn vô căn cứ "bà bán bỏng bị ho lao" khiến các bạn học sinh quay lưng, bà bị ế hàng, phải chịu đói khát, bị xúc phạm.
+ Trong thực tế đời sống: Với sự phát triển của mạng xã hội, tin đồn (fake news) lan truyền với tốc độ chóng mặt. Một cái "click" chuột hay một lượt "share" thiếu suy nghĩ có thể đẩy một cá nhân đến bi kịch.
– Giải pháp:
+ Cần tỉnh táo, kiểm chứng kỹ lưỡng trước khi tin hoặc lan truyền bất cứ điều gì. Hãy là "điểm dừng" của những tin đồn độc hại.
+ Nếu lỡ gây ra hiểu lầm, cần dũng cảm đối mặt và tìm cách khắc phục (như hành động đồng lòng mua bỏng giúp bà của các bạn nhỏ ở cuối truyện).
* Đưa ra bài học nhận thức và hành động:
– Nhận thức: Mỗi người cần có trách nhiệm trong lời nói, không vội tin, không vội lan truyền thông tin.
– Hành động: Biết cảm thông, đặt mình vào hoàn cảnh của người khác trước khi phán xét.
c3. Kết bài: Rút ra thông điệp rằng một lời nói thiếu suy nghĩ có thể gây hậu quả nghiêm trọng, vì vậy hãy nói lời đúng đắn và lan toả điều tốt đẹp trong cuộc sống.