Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề kiểm tra giữa học kì II - Đề số 3 SVIP
Đọc văn bản sau:
CUỘC THÁM HIỂM VÀO LÒNG ĐẤT
(trích)
[…] Một sự ghê sợ dai dẳng không gì cưỡng nổi bỗng xâm chiếm tâm hồn tôi. Tôi linh cảm một tai biến rùng rợn sắp tới, ngoài trí tưởng tượng của con người. Thoạt đầu chỉ là một ý nghĩ lờ mờ, nhưng dần dần nó được định hình, rồi bám chặt lấy suy nghĩ của tôi. Tôi nhận ra những lớp đá hoa cương bắt đầu lay động. Nhiệt độ càng ngày càng tăng đang hừng hực khắp khoảng không gian nhỏ hẹp của cái giếng này. Tôi quyết định lấy địa bàn ra xem.
Nhưng hình như nó cũng điên lên! Kim của nó chỉ loạn xạ từ hướng này sang hướng khác. Tôi biết rất rõ rằng tác động của từ trường dưới lòng đất rất mạnh, do vậy chuyển động của kim địa bàn cũng không làm tôi sợ. Nhưng có những hiện tượng khác khiến tôi không thể bỏ qua. Đâu đây bắt đầu có những tiếng nổ ì ầm, nghe càng lúc càng liên tục hơn. Rồi chẳng mấy chốc nó trở thành tiếng ầm vang không dứt. Không còn nghi ngờ gì nữa, vỏ trái đất sắp bị phá vỡ, chúng tôi sắp bị nghiền nát.
− Chú ơi! − Tôi kêu lên − Chúng ta sắp nguy đến nơi rồi!
− Cháu lo sợ gì vậy? − Giáo sư bình tĩnh hỏi − Có chuyện gì thế?
− Chú nhìn mà xem, vách đá đang chuyển động, nước sôi sùng sục, hơi nước càng ngày càng dày đặc, kim địa bàn giật giật như lên cơn động kinh… toàn là những triệu chứng của động đất.
− Động đất à? Không phải đâu! – Giáo sư nhẹ nhàng lắc đầu nói − Theo chú, đây là những dấu hiệu báo trước sắp có một vụ phún xuất!
− Núi lửa sắp hoạt động! Chúng ta đang ở trong miệng ống của một núi lửa sắp phun trào?
− Đúng vậy! − Giáo sư tươi cười nói − Chú nghĩ chúng ta đang gặp may đấy!
− Gặp may? Chú tôi phát điên rồi sao? Ý ông muốn nói gì? Mà sao ông lại bình thản và mỉm cười thế kia?
− Cái gì? − Tôi gào lên − Mình sắp bị phun lên trời cùng với lửa và nham thạch, một trận mưa tro bụi! Vậy mà chú cho là mình gặp may sao!
− Đúng vậy! − Giáo sư bình thản nhìn tôi qua cặp kính trắng và nói − Bởi đây chính là dịp may duy nhất để chúng ta có thể trở lại mặt đất.
Nghĩ đi nghĩ lại, tôi thấy giáo sư nói đúng, hoàn toàn đúng! Chưa bao giờ tôi thấy ông có vẻ can đảm và tự tin hơn khi ông bình tĩnh tính toán cơ hội thoát chết của chúng tôi.
Suốt đêm, chiếc bè vẫn cứ đi lên. Tiếng nổ ì ầm càng âm vang dữ dội. Tôi thở không nổi và cứ nghĩ giây phút cuối cùng của mình sắp cận kề. Tuy vậy, trí tưởng tượng là một thứ kì lạ đến độ tôi bỗng thấy mình cũng bình thản ngẫm nghĩ về tình trạng hiện tại. Bên dưới chiếc bè là một khối nước sôi và bên dưới nữa là một khối dung nham với đá tảng. Một khi bắn ra khỏi miệng núi lửa, những tảng đá đó sẽ văng khắp nơi. Vì chúng tôi đang ở trong đường ống của một ngọn núi lửa nên không còn nghi ngờ gì về điều đó nữa. Nhưng lần này, thay vì một ngọn núi lửa đã tắt như ngọn Sneffels, chúng tôi lại ở trong một ngọn núi lửa nào đó đang hoạt động. Do vậy, tôi bắt đầu tự hỏi ngọn núi này ở đâu và mình bị bắn ra ở phần nào của mặt đất. Chắc chắn là đâu đó phía cực Bắc. Trước khi bị hư, kim địa bàn luôn chỉ cho thấy chúng tôi đi về phương Bắc. Phải chăng chúng tôi đã trở lại dưới lòng đất Iceland? Phải chăng chúng tôi sẽ bắn ra theo một trong tám ngọn núi lửa của hòn đảo này? Dĩ nhiên ở đó có nhiều miệng núi lửa, nhưng tôi muốn biết chính xác là mình sẽ ra theo miệng núi lửa nào.
Về sáng, nhiệt độ xung quanh cũng như vận tốc đùn lên của những chất phun trào càng tăng. Đó là hiện tượng bình thường của núi lửa khi tới gần mặt đất. Giếng cũng rộng ra, thoáng hơn, nhuốm ánh sáng vàng hung. Từ nhiều đường hầm sâu tun hút đâm ngang thành giếng, hơi nước ùn ùn tuôn ra, trong khi lửa lưu huỳnh bắt đầu cháy trên vách đường hầm...
(Giuyn Véc-nơ, Cuộc thám hiểm vào lòng đất, Giang Hà Vỵ dịch, NXB Văn học)
Thực hiện các yêu cầu và câu hỏi từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1. Cuộc du hành trong văn bản diễn ra trong không gian nào?
Câu 2. Câu văn "Một sự ghê sợ dai dẳng không gì cưỡng nổi bỗng xâm chiếm tâm hồn tôi." mở rộng thành phần chủ ngữ bằng cách nào?
Câu 3. Vì sao giáo sư Giáo sư Otto Lidenbrock lại bình thản trước sự thay đổi, biến động của không gian? Từ đó, em nhận ra phẩm chất gì của nhân vật?
Câu 4. Chỉ ra hai phẩm chất của nhân vật "tôi" và đưa ra chi tiết chứng minh cho các phẩm chất đó.
Câu 5. Nếu trở thành một nhà thám hiểm, em sẽ lựa chọn du hành tới không gian nào? Lí giải về sự lựa chọn của em bằng đoạn văn khoảng 7 − 9 câu.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Cuộc du hành diễn ra ở không gian phễu núi lửa.
Câu 2. (0,5 điểm)
Câu văn "Một sự ghê sợ dai dẳng không gì cưỡng nổi bỗng xâm chiếm tâm hồn tôi." mở rộng thành phần chủ ngữ bằng cụm chủ − vị.
Câu 3. (1,0 điểm)
− Giáo sư bình thản vì ông phát hiện ra mình đang ở trong miệng ống của núi lửa, núi lửa sắp phun trào, ba người từ trong lòng đất có thể bắn ra ngoài, trở lại mặt đất.
− Từ đó, em nhận ra giáo sư là một người yêu khoa học, có vốn tri thức sâu rộng, am hiểu về khoa học.
Câu 4. (1,0 điểm)
Gợi ý:
− Giàu trí tưởng tượng: Hình dung cảnh bị phun trào cùng nham thạch, tro bụi, những tảng đá bị bắn tung ra,...
− Dũng cảm, vượt lên trên sợ hãi: Dù ban đầu hoảng loạn, nhân vật dần lấy lại sự bình tĩnh, bỗng thấy mình cũng bình thản ngẫm nghĩ về tình trạng hiện tại.
Câu 5. (1,0 điểm)
− Học sinh trình bày sự lựa chọn của bản thân.
Gợi ý:
− Nêu được tên của không gian lựa chọn.
− Trình bày được lý do vì sao lựa chọn không gian đó.
− Nêu tình cảm, cảm xúc và bài học rút ra.
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích nhân vật giáo sư trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày quan điểm tán thành với ý kiến "Giới trẻ hiện nay thường dễ bỏ cuộc vì áp lực thành tích và kì vọng quá cao từ bản thân và gia đình.".
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (2,0 điểm).
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.
– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật giáo sư trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
− Giáo sư là một người bản lĩnh, thông minh:
+ Khi người cháu hoảng loạn vì "vách đá đang chuyển động, nước sôi sùng sục, hơi nước càng ngày càng dày đặc, kim địa bàn giật giật như lên cơn động kinh...", giáo sư vẫn bình tĩnh hỏi han. Thái độ điềm tĩnh trước những dấu hiệu bất thường cho thấy bản lĩnh và sự vững vàng của một nhà khoa học.
+ Trước tình huống núi lửa sắp phun trào, thay vì sợ hãi, giáo sư lại "nhẹ nhàng lắc đầu", "tươi cười nói" đây là "dịp may duy nhất để chúng ta có thể trở lại mặt đất.". Chi tiết này cho thấy sự lạc quan, thông minh và nhạy bén của giáo sư: Ông nhận ra cơ hội sống giữa hiểm nguy, biến cái chết tưởng chừng cận kề thành một hướng giải thoát.
− Giáo sư luôn lạc quan và giữ vững tinh thần trước những tình huống nguy hiểm:
+ Trước tình huống núi lửa sắp phun trào, thay vì sợ hãi, giáo sư lại "nhẹ nhàng lắc đầu", "tươi cười nói" đây là "dịp may duy nhất để chúng ta có thể trở lại mặt đất.". Chi tiết này cho thấy sự lạc quan của giáo sư: Ông nhận ra cơ hội sống giữa hiểm nguy, biến cái chết tưởng chừng cận kề thành một hướng giải thoát.
+ Hình ảnh giáo sư "bình thản nhìn tôi qua cặp kính trắng" khi nguy hiểm đang ập đến, hay cách ông "bình tĩnh tính toán cơ hội thoát chết" thể hiện một trí tuệ sắc sảo, lòng can đảm đáng khâm phục. Chính sự vững vàng ấy giúp trấn an người cháu và dẫn dắt cả nhóm qua hiểm nguy.
➞ Nhân vật giáo sư được xây dựng là một nhà khoa học can đảm, sáng suốt và đầy bản lĩnh. Ông tiêu biểu cho tinh thần khám phá, khát vọng chinh phục và lòng tin vào tri thức.
Câu 2 (4,0 điểm).
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm)
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm)
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tán thành ý kiến "Giới trẻ hiện nay thường dễ bỏ cuộc vì áp lực thành tích và kì vọng quá cao từ bản thân và gia đình.".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm)
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Nêu vấn đề đời sống cần bàn và ý kiến đáng quan tâm về vấn đề ấy.
– Giới thiệu vấn đề: Trong xã hội hiện nay, thành tích học tập và sự kì vọng từ gia đình, nhà trường đặt lên vai giới trẻ ngày càng lớn, gây nhiều áp lực tinh thần.
– Nêu ý kiến đáng quan tâm: Giới trẻ thường dễ nản lòng, bỏ cuộc trước khó khăn do áp lực thành tích và kì vọng quá cao từ bản thân và gia đình.
– Khẳng định quan điểm: Đồng tình với ý kiến.
* Thân bài:
– Trình bày thực chất của ý kiến, quan niệm đã nêu để bàn luận:
+ Áp lực thành tích là mong muốn đạt điểm số cao, thành tích nổi bật trong học tập, thi cử hay các hoạt động ngoại khóa.
+ Kì vọng quá mức từ gia đình, thầy cô khiến giới trẻ phải gồng mình, dễ nảy sinh tâm lý chán nản khi không đạt được mục tiêu.
– Thể hiện thái độ tán thành ý kiến vừa nêu bằng các ý:
+ Luận điểm 1: Áp lực thành tích khiến giới trẻ dễ bỏ cuộc khi đối mặt với khó khăn.
++) Lí lẽ: Khi phải cạnh tranh với bạn bè, đạt điểm cao liên tục hay giành giải thưởng, nhiều bạn trẻ cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng, dẫn đến nản chí.
++) Bằng chứng:
+++) Nhiều học sinh, sinh viên mắc chứng lo âu, căng thẳng, thậm chí trầm cảm do áp lực học tập và thi cử.
+++) Khi thất bại hoặc không đạt kì vọng, một số bạn chọn cách từ bỏ môn học, hoạt động hay mục tiêu đã đặt ra.
➞ Áp lực thành tích cao khiến giới trẻ thiếu kiên nhẫn và dễ chùn bước trước thử thách.
+ Luận điểm 2: Kì vọng quá cao từ bản thân và gia đình làm gia tăng khả năng bỏ cuộc.
++) Lí lẽ: Khi gia đình hoặc bản thân đặt mục tiêu quá lớn, giới trẻ thường so sánh mình với người khác, dễ tự trách, mất động lực.
++) Bằng chứng:
+++) Các bạn trẻ muốn đạt điểm cao hoặc thành tích nổi bật để làm hài lòng cha mẹ, dẫn tới căng thẳng và sợ thất bại.
+++) Một số nghiên cứu cho thấy học sinh chịu kì vọng quá mức thường có xu hướng tránh thử thách mới để không thất bại, từ đó dễ từ bỏ.
➞ Kì vọng quá cao tạo áp lực tinh thần, dẫn tới hiện tượng bỏ cuộc và giảm sáng tạo, tự tin.
* Kết bài:
– Khẳng định lại quan điểm: Áp lực thành tích và kì vọng quá cao từ bản thân, gia đình khiến giới trẻ dễ bỏ cuộc, thiếu kiên nhẫn và quyết tâm.
– Ý nghĩa: Xã hội, gia đình và chính bản thân các bạn trẻ cần nhận thức đúng mức về thành tích, khích lệ nỗ lực, trải nghiệm, học hỏi và vượt khó một cách bền vững.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1,5 điểm)
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt (0,5 điểm)
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo (0,5 điểm)
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.