Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề kiểm tra giữa học kì II - Đề số 2 SVIP
Đọc văn bản sau:
HAI VẠN DẶM DƯỚI ĐÁY BIỂN
(trích)
Chúng tôi đi chừng nửa tiếng đồng hồ. Đáy biển ngày càng nhiều đá. Những con sò, các lớp giáp xác nhỏ li ti phát ra ánh sáng lân tinh yếu ớt. Tôi thoáng thấy những đống đá được hàng triệu động vật giống như những bông hoa và tảo phủ kín. Chân tôi trượt trên tấm thảm thực vật dính nhơm nhớp và nếu không có gậy thì tôi đã bị ngã nhiều lần. Quay lại, tôi vẫn thấy ánh sáng đèn pha tàu Nau-ti-lux. Chúng tôi càng đi xa thì ánh sáng đó càng mờ đi. Những đống đá dưới đáy đại dương mà tôi vừa nói trên mang dấu vết một sự sắp đặt nhất định mà tôi không giải thích nổi. Ngoài ra còn một số hiện tượng kỳ lạ nữa. Tôi cảm thấy dưới đế giày bằng chì của tôi đang lạo xạo những xương khô. Phải chăng chúng tôi đang bước trên mảnh đất đầy xương?... Ánh sáng soi đường cho chúng tôi ngày càng rực đỏ, tựa như ánh lửa của đám cháy phía chân trời. Lửa cháy trong nước kích thích tính tò mò của tôi đến cao độ. Có phải đó là ánh điện không? Hay là tôi đang được chứng kiến một hiện tượng của thiên nhiên mà các nhà bác học chưa hề biết? Tôi thoáng có ý nghĩ: Biết đâu cái lò lửa ngầm dưới biển này không do bàn tay con người duy trì? Biết đâu tôi chẳng gặp ở đây những người bạn, những người đồng chí của Nê-mô, đang sống một cuộc đời độc đáo như Nê-mô? Biết đâu tôi chẳng gặp cả một đám người vì chán ghét những ràng buộc trên mặt đất mà đi tìm độc lập tự do dưới đáy biển? Những ý nghĩ vớ vẩn, mung lung cứ ám ảnh tôi mãi. Trong trạng thái bị kích thích cao độ ấy, nếu có gặp một thành phố xây dưới nước như Nê-mô hằng mơ ước, thì tôi cũng sẽ cho là chuyện rất tự nhiên. Con đường chúng tôi đi ngày càng sáng tỏ. Một ánh hào quang trăng trắng phát ra từ phía sau ngọn núi cao hơn đáy biển hai trăm mét. Nhưng ánh hào quang đó chỉ phản ánh những tia sáng bị khúc xạ trong nước biển. Bản thân cái nguồn phát sáng thì ở bên kia ngọn núi. Thuyền trưởng Nê-mô vững bước giữa những đống đá ngổn ngang, ông ta rất thông thạo con đường này. Tôi yên tâm đi theo Nê-mô. Đối với tôi, Nê-mô giống như một vị thần biển! Tôi ngắm nhìn vóc người cao lớn của Nê-mô in trên ánh hồng. Một giờ đêm chúng tôi tới chân núi. Nhưng muốn trèo lên sườn núi dốc đứng thì phải theo những con đường nhỏ rất khó đi nằm giữa rừng cây rậm rạp. Đây đúng là một rừng cây đã chết, trụi hết lá, đã hóa đá vì tác động của muối biển... Cảnh tượng thật chẳng lời lẽ nào tả xiết! Thuyền trưởng Nê-mô vẫn đi trước. Tôi không muốn bị tụt lại nên cố theo sát Nê-mô. Chiếc gậy rất được việc. Chỉ cần bước hụt là có thể lao xuống vực thẳm nằm kề bên những con đường hẹp. Tôi nhảy qua những khe núi sâu mà nếu ở trên cạn thì tôi đành chịu không dám vượt...
(Giulơ Véc-nơ, Hai vạn dặm dưới đáy biển, Lê Anh (Đỗ Ca Sơn) dịch từ bản tiếng Nga, NXB Văn học)
Thực hiện các yêu cầu và câu hỏi từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1. Những hiện tượng lạ nào xuất hiện trong chuyến thám hiểm đáy biển?
Câu 2. Chỉ ra số từ trong câu văn Một ánh hào quang trăng trắng phát ra từ phía ngọn núi.
Câu 3. Theo văn bản, vì sao thuyền trưởng Nê-mô lại tự tin trong cuộc thám hiểm ở dưới đáy biển? Theo em, việc tự tin đó đem lại ý nghĩa gì trong chuyến thám hiểm này?
Câu 4. Nêu hai phẩm chất của nhân vật thuyền trưởng Nê-mô trong văn bản và chỉ ra lý do vì sao em nhận ra các phẩm chất đó.
Câu 5. Theo em, việc khám phá, thám hiểm những miền đất lạ có quan trọng đối mỗi người hay không? Vì sao?
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Những hiện tượng lạ xuất hiện trong chuyến thám hiểm đáy biển là:
− Đáy biển ngày càng nhiều đá.
− Những con sò, các lớp giáp xác nhỏ li ti phát ra ánh sáng lân tinh yếu ớt.
− Những đống đá được hàng triệu động vật giống như những bông hoa và tảo phủ kín.
− Những xương khô.
− Lửa cháy trong nước.
− Một ánh hào quang trăng trắng phát ra từ phía sau ngọn núi cao hơn đáy biển hai trăm mét.
Câu 2. (0,5 điểm)
Số từ trong câu văn là "Một".
Câu 3. (1,0 điểm)
Thuyền trưởng Nê-mô tự tin trong cuộc thám hiểm ở dưới đáy biển vì ông đã từng thám hiểm ở vị trí này, ông ta rất thông thạo con đường này. Nhờ sự tự tin đó, việc thám hiểm trở nên suôn sẻ hơn khi con đường vô cùng khó đi và nhiều chông gai. Nê-mô cũng trở thành điểm tựa cho nhân vật "tôi", trở thành người dẫn đường đáng tin cậy.
Câu 4. (1,0 điểm)
Gợi ý một số phẩm chất của Nê-mô:
− Dũng cảm, mạnh mẽ: Thể hiện ở chi tiết vóc người cao lớn, can đảm đi trước trong một rừng cây rậm rạp, một rừng cây chết.
− Đam mê khám phá: Thể hiện ở việc Thuyền trưởng Nê-mô vững bước giữa những đống đá ngổn ngang, ông ta rất thông thạo con đường này.
− Có ước mơ lớn lao: Thể hiện ở chi tiết Nê-mô hằng mơ ước gặp một thành phố xây dưới nước.
Câu 5. (1,0 điểm)
− Học sinh trình bày ý kiến của bản thân, lý giải phù hợp.
− Gợi ý:
+ Nếu cho là có quan trọng, có thể lý giải: Việc khám phá, thám hiểm những miền đất lạ giúp ta tìm kiếm những vùng đất mới, mở rộng đất nước; khám phá những điều mới mẻ để có thêm kiến thức phong phú về thế giới xung quanh...
+ Nếu cho là không quan trọng, có thể lý giải: Việc khám phá, thám hiểm những miền đất lạ là không cần thiết. Nếu quá nhiều nơi mới được tìm ra sẽ khiến con người trở nên hoang mang, khó kiểm soát. Đồng thời, những vùng đất mới lạ thường bí ẩn, tiềm tàng những nguy hiểm.
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích nhân vật thuyền trưởng Nê-mô trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. "Sự may mắn và nỗ lực của bản thân, yếu tố nào quan trọng hơn trong thành công của con người?".
Theo em, yếu tố nào là quan trọng hơn? Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) trình bày ý kiến tán thành về một yếu tố góp phần tạo nên thành công mà em lựa chọn.
Hướng dẫn giải:
Câu 1 (2,0 điểm).
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn.
– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích nhân vật thuyền trưởng Nê-mô trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:
Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
− Thuyền trưởng Nê-mô là một người tài giỏi, giàu tri thức:
+ Chi tiết "Thuyền trưởng Nê-mô vững bước giữa những đống đá ngổn ngang, ông ta rất thông thạo con đường này." cho thấy sự am hiểu sâu rộng về thế giới biển cả của thuyền trưởng Nê-mô.
+ Dưới góc nhìn của người kể chuyện, Nê-mô được khắc hoạ như một "vị thần biển" với vóc người cao lớn in trên ánh hồng. Hình ảnh này không chỉ thể hiện sự mạnh mẽ, oai nghiêm mà còn tạo nên vẻ bí ẩn và đặc biệt của nhân vật.
+ Nê-mô thông thạo từng ngóc ngách dưới đáy biển, dẫn mọi người vượt qua những địa hình hiểm trở như "sườn núi dốc đứng", "những khe núi sâu",... Qua đó, ta thấy được sự quả cảm và bản lĩnh của vị thuyền trưởng.
− Thuyền trưởng Nê-mô có bản lĩnh kiên định, thể hiện qua hành trình dẫn đường đầy hiểm nguy dưới đáy biển:
+ Chi tiết "Thuyền trưởng Nê-mô vững bước giữa những đống đá ngổn ngang, ông ta rất thông thạo con đường này." thể hiện bản lĩnh cùng kinh nghiệm dày dặn của thuyền trưởng Nê-mô.
+ Khi ánh sáng đèn pha tàu Nau-ti-lux dần mờ đi, không gian ngày càng tối và nguy hiểm, thuyền trưởng Nê-mô vẫn giữ phong thái bình tĩnh, khiến người đi sau "yên tâm đi theo Nê-mô". Chi tiết này thể hiện phẩm chất của một người thủ lĩnh vững vàng, luôn tạo niềm tin cho người khác.
➞ Nhân vật thuyền trưởng Nê-mô được khắc hoạ như một con người đầy bản lĩnh, trí tuệ và bí ẩn, hiện thân cho khát vọng chinh phục đại dương, tự do khám phá thế giới.
Câu 2 (4,0 điểm).
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm)
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm)
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,0 điểm)
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Nêu vấn đề đời sống cần bàn và ý kiến đáng quan tâm về vấn đề ấy.
– Thành công của con người là kết quả của nhiều yếu tố. Trong đó, nhiều người tranh luận xem yếu tố may mắn hay nỗ lực của bản thân quan trọng hơn.
– Học sinh chọn một yếu tố để tán thành. Ví dụ: “Em đồng tình rằng nỗ lực của bản thân là yếu tố quan trọng hơn trong thành công” (hoặc “may mắn đóng vai trò quyết định”).
* Thân bài:
– Trình bày thực chất của ý kiến, quan niệm đã nêu để bàn luận:
+ Nỗ lực của bản thân: Là việc mỗi người cố gắng rèn luyện, học hỏi, kiên trì thực hiện mục tiêu, tự vượt qua khó khăn.
+ May mắn: Là những cơ hội, hoàn cảnh thuận lợi, người khác hỗ trợ bất ngờ mà con người không chủ động tạo ra.
+ Ý nghĩa tổng thể: Quan điểm nhắc nhở con người cần đánh giá đúng vai trò của các yếu tố trong thành công để biết cách phấn đấu và tận dụng cơ hội.
– Thể hiện thái độ tán thành ý kiến vừa nêu bằng các ý:
+ Luận điểm 1: (bám sát yếu tố đã chọn)
++ Ví dụ chọn nỗ lực: Nỗ lực giúp con người tích luỹ kiến thức, kỹ năng và rèn luyện ý chí, là nền tảng để đạt thành công.
+++) Lí lẽ: Không ai thành công chỉ nhờ may mắn mà không cố gắng.
+++) Bằng chứng: Các vận động viên, học sinh, nghệ sĩ… dù gặp may mắn hay có cơ hội, nếu không luyện tập, nỗ lực thì kết quả không bền vững.
++ Ví dụ chọn may mắn: May mắn tạo ra cơ hội mở ra con đường thành công nhanh hơn, giúp con người đạt mục tiêu mà nỗ lực chưa chắc đã làm được.
+++) Lí lẽ: Không phải ai cố gắng cũng gặp đúng thời cơ, may mắn quyết định phần nào thành công.
+++) Bằng chứng: Một số nhà sáng lập, nghệ sĩ được “cơ hội đúng lúc, đúng chỗ” nhờ may mắn, từ đó nổi bật và thành công nhanh.
+ Luận điểm 2:
++ Ví dụ chọn nỗ lực: Nỗ lực giúp con người chủ động vượt khó khăn, tự tạo cơ hội, không phụ thuộc vào hoàn cảnh hay may mắn.
+++) Lí lẽ: Người biết nỗ lực sẽ tận dụng mọi cơ hội, khắc phục thất bại, từ đó tăng khả năng thành công lâu dài.
+++) Bằng chứng: Các nhà khoa học, doanh nhân kiên trì nghiên cứu, thử nghiệm, dù thất bại nhiều lần vẫn đạt thành công.
++ Ví dụ chọn may mắn: May mắn giúp giảm rủi ro, tạo thuận lợi và tăng hiệu quả nỗ lực.
+++) Lí lẽ: May mắn giúp con người thực hiện nỗ lực đúng hướng, đạt kết quả tốt hơn so với chỉ dựa vào bản thân.
+++) Bằng chứng: Một vận động viên gặp đối thủ yếu ngay vòng đầu, hay doanh nhân đúng thời điểm thị trường bùng nổ, nhờ may mắn mà hạn chế những thất bại, rủi ro, nhanh chóng đạt mục tiêu.
* Kết bài:
– Khẳng định lại quan điểm: Nỗ lực/may mắn là yếu tố quan trọng hơn trong thành công (tùy chọn học sinh).
– Ý nghĩa của việc đồng tình với quan điểm này:
+ Nếu chọn nỗ lực: Mỗi người cần rèn luyện, kiên trì và tự tạo cơ hội, bởi chỉ khi chủ động cố gắng, con người mới phát triển được năng lực, vượt qua khó khăn và đạt thành công bền vững.
+ Nếu chọn may mắn: Mỗi người cần tận dụng cơ hội, cảnh giác và nắm bắt thời cơ khi may mắn xuất hiện, bởi may mắn giúp tăng hiệu quả nỗ lực và mở ra những bước tiến nhanh hơn trong cuộc sống.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau (1,5 điểm)
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt (0,5 điểm)
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo (0,5 điểm)
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.