Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề kiểm tra cuối học kì II - Đề số 5 SVIP
Đọc văn bản sau.
TRẺ CON KHÔNG ĐƯỢC ĂN THỊT CHÓ
(Tóm tắt đoạn trước đó: Câu chuyện kể về một kẻ nghiện rượu bỗng một ngày lên cơn thèm thịt chó. Khi nhìn thấy con chó nhà mình nằm ở bờ rào hắn đã viện đủ lí do để thịt nó. Đám con đói lâu ngày cũng háo hức chờ được ăn. Người vợ đành đi mua chịu thêm gạo, rượu, mầm để về nấu. Thế nhưng khi nấu xong, gã chồng mời bạn bè về nhậu. Dưới bếp mấy mẹ con còm cõi nheo nhóc ngồi chờ.)
Người mẹ rất còm cõi và bốn đứa con gầy ốm, quây quần với nhau trong xó bếp. Trong gia đình này, năm mẹ con thường giống như một bọn dân hèn yếu cùng chung phận con sâu, cái kiến dưới cái ách một ông bạo chúa.
Thấy lũ con đứa nào cũng nhăn nhăn, nhó nhó, người mẹ thương đứt ruột. Thị biết rằng chúng đói. Khi người ta đã đói mà lại ngửi thấy mùi thịt chó, thì bụng càng đói thêm. Thế mà bữa rượu của người bố với ba ông khách cứ kéo dài mãi. Nghĩ mà bực quá! Cái thể không chết được, chứ giá chết được thì thị chỉ thắt cổ đi cho rồi... Thị dỗ con:
− Cố mà nhịn lúc nữa, các con ạ. Đợi trên nhà ăn xong, còn thừa thì ta ăn.
Rồi muốn cho chúng quên đi, thị sổ tóc ra cho chúng xúm vào bắt chấy. Úi chà! Nhiều chấy quá! Chỉ việc rẽ một đám tóc ra là đủ thấy bốn, năm con bò lổm ngổm. Cái Gái và cu Nhớn, cu Nhỡ thi nhau bắt. Chúng cho cu Con mấy con chấy kềnh làm trâu. Mới đầu cái trò chơi ấy cũng hay hay. Nhưng chỉ một lúc là chúng chán. Thắng cu Con ra hiệu đình công trước. Nó lăn vào lòng mẹ, oằn oại vừa hụ hị kêu:
− Đói!... Bu ơi! Đói...
Tức khắc những đứa kia cũng nhớ ra rằng chúng đói. Chúng không bắt chấy cho mẹ nữa. Chúng thở dài. Chúng nuốt bọt nhem nhép. Chúng thừ mặt ra. Chúng nằm ẹp xuống đất và lật áo lên để khoe cái bụng. Bụng đứa nào đứa nấy cũng gần dính lưng. Mắt thị rơm rớm nước. Cũng may, tiếng người bố trên nhà gọi:
− Cái Gái đâu! Dẹp mâm đi, này!
Bốn đứa trẻ cùng nhỏm dậy: mặt chúng đột nhiên tươi tỉnh lại. Gái "vâng" một tiếng thật to và chạy lên. Cu Nhớn, cu Nhỡ ngồi chồm chỗm đợi... Một lát sau, Gái bê mâm xuống. Nó cũng nâng lên ngang mặt như cha lúc nãy. Các em nó đứng cả lên, chực đu lấy cái mâm. Nó càng nâng cao hơn, mồm thét:
− Khoan! Khoan! Kẻo vỡ...
Cu Nhớn thét:
− Thì bỏ xuống!
Cái Gái vênh mặt lên, trêu nó:
− Không bỏ. Không cho chúng mày ăn.
− Có sợ thành tật không?
− Không cho ăn thật đấy.
Cu Nhỡ sốt ruột, khoặm mặt lại, vằng nhau với chị:
− Làm trò mãi! Có bỏ xuống đây không nào?
Gái hạ nhanh mâm xuống đất bảo:
− Này, ăn đi.
Nó ngẩng mặt nhìn các em, cười the thé. Người mẹ xịu ngay xuống. Trong mâm, chỉ còn bát không. Thằng cu Con khóc oà lên. Nó lăn ra, chân đạp như một người giãy chết, tay cào xé mẹ. Người mẹ đỏ mũi lên và mếu xệch đi, rưng rưng khóc. Cái Gái và cu Nhớn, cu Nhỡ cũng khóc theo.
(Nam Cao, Trích Truyện ngắn Nam Cao, NXB Trẻ)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản "Trẻ con không được ăn thịt chó".
Câu 2. Người mẹ đã làm gì để đánh lạc hướng lũ trẻ, giúp chúng tạm quên đi cơn đói?
Câu 3. Hình ảnh "cái bát không" ở cuối đoạn trích có ý nghĩa gì trong việc khắc hoạ tính cách người cha và bi kịch của gia đình này?
Câu 4. Phân tích diễn biến tâm lí của những đứa trẻ từ khi nghe tiếng người bố gọi dọn mâm cho đến khi nhìn thấy cái mâm bát. Diễn biến tâm lí này thể hiện điều gì?
Câu 5. Qua văn bản, em có suy nghĩ gì về tác hại của sự nghèo đói đối với hạnh phúc của một gia đình? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Trẻ con không được ăn thịt chó" là tự sự.
Câu 2. (0,5 điểm)
Người mẹ sổ tóc ra cho lũ trẻ xúm vào bắt chấy nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của chúng, hi vọng giúp các con quên đi cơn đói cồn cào.
Câu 3. (1,0 điểm)
Ý nghĩa của hình ảnh "cái bát không" ở cuối văn bản:
− Về tính cách người cha: Hình ảnh này tố cáo sự ích kỷ, tàn nhẫn và tha hoá đến tận cùng của người cha. Vì miếng ăn và sĩ diện với bạn bè, ông ta đã nhẫn tâm ăn hết sạch đồ ăn, không chừa lại chút gì cho vợ con đang đói khát mòn mỏi chờ đợi dưới bếp. Ông ta hiện lên đúng như một "ông bạo chúa" xấu xa.
− Về bi kịch gia đình: "Cái bát không" là biểu tượng cho sự nghèo đói cùng cực và sự tuyệt vọng.
+ Nó dập tắt niềm hi vọng nhỏ nhoi của những đứa trẻ.
+ Nó đẩy nỗi đau và sự bất lực của người mẹ lên đến đỉnh điểm.
=> Bữa ăn đã trở thành một bi kịch đầy nước mắt.
Câu 4. (1,0 điểm)
− Diễn biến tâm lí của những đứa trẻ khi nghe tiếng bố gọi dọn mâm đến khi thấy mâm bát:
+ Khi nghe thấy tiếng gọi: Từ trạng thái ủ rũ, mệt lả vì đói thì chúng "đột nhiên tươi tỉnh lại", "nhỏm dậy" trả lời to và ngồi chồm chỗm đợi đầy háo hức, mong chờ.
+ Khi mâm được bê xuống: Chúng vui vẻ, tranh giành, trêu đùa nhau ("Khoan! Kẻo vỡ", "Không cho chúng mày ăn"), sự mong chờ và niềm tin được ăn khiến những đứa trẻ trở nên hoạt bát.
+ Khi nhìn thấy cái bát trống không: Những đứa trẻ chuyển sang trạng thái hụt hẫng, thất vọng và đau đớn đến tột độ. Thằng cu Con "khóc oà", "đạp như giãy chết" và những đứa còn lại đều khóc theo.
− Ý nghĩa của diễn biến tâm lí:
+ Khắc hoạ sự tàn khốc của cái đói, nó chi phối hoàn toàn cảm xúc và tinh thần của những đứa trẻ ngây thơ.
+ Làm nổi bật sự tội nghiệp, đáng thương của lũ trẻ và sự tàn nhẫn của thực tại mà chúng phải gánh chịu.
Câu 5. (1,0 điểm)
Học sinh trình bày suy nghĩ của bản thân về tác hại của sự nghèo đói với hạnh phúc của một gia đình. Gợi ý:
− Sự nghèo đói là một trong những nguyên nhân huỷ hoại hạnh phúc gia đình.
− Nghèo đói không chỉ đày đoạ con người về thể xác mà còn mài mòn nhân phẩm, khiến con người trở nên tha hoá, ích kỷ.
− Cái đói làm mất đi sự ấm áp, yêu thương, biến ngôi nhà thành nơi của sự chịu đựng và nước mắt. Khi nhu cầu cơ bản không được đáp ứng, tình phụ tử, nghĩa vợ chồng dễ bị rạn nứt, nhường chỗ cho bản năng sinh tồn và sự vô cảm lạnh lùng.
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích bi kịch của gia đình trong văn bản "Trẻ con không được ăn thịt chó".
Câu 2. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) thuyết minh về một cảnh quan thiên nhiên gắn bó với tuổi thơ của em có gắn bó một hay nhiều yếu tố như tự sự, biểu cảm, miêu tả, nghị luận.
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích bi kịch của gia đình trong văn bản "Trẻ con không được ăn thịt chó".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Gợi ý:
− Bi kịch của cái đói và sự chờ đợi trong tuyệt vọng:
+ Tình cảnh gia đình đối lập: Trên nhà là bữa tiệc rượu no say của người cha và khách khứa, dưới bếp là sự chờ đợi của năm mẹ con.
+ Gia đình sống trong cảnh đói triền miên, người mẹ còm cõi, bốn đứa trẻ thì gầy guộc. Nam Cao ví họ như "sâu kiến" dưới ách thống trị của ông chồng "bạo chúa".
+ Sự chờ đợi trong cái đói chính là sự tra tấn ám ảnh về cả thể xác và tinh thần. Cái đói cồn cào cộng hưởng với mùi thơm thịt chó trở thành thử thách với người mẹ còm cõi và bốn đứa trẻ đáng thương.
+ Người mẹ sổ tóc cho các con bắt chấy để giết thời gian và quên đi cái đói. Chi tiết thể hiện sự nỗ lực tội nghiệp của người mẹ nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh sự đói khát cùng cực của gia đình.
=> Cái đói không chỉ là sự thiếu ăn mà đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực, chi phối hành động và cảm xúc của những con người tội nghiệp trong gia đình.
− Bi kịch đến từ sự tàn nhẫn và vô trách nhiệm của người cha:
+ Dù không xuất hiện trực tiếp trong đoạn trích (chỉ thông qua một số chi tiết và tiếng gọi), người cha hiện lên là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến đau khổ và bi kịch trong gia đình.
+ Người bố nghiện rượu rồi giết chó để mời bạn bè đến ăn, bỏ mặc vợ con đói khát dưới bếp. Hắn ăn uống no say không hề để lại một chút gì cho những đứa con đang đói lả và người vợ của mình.
=> Những chi tiết này cho thấy bi kịch gia đình không chỉ đến từ việc thiếu ăn, mà quan trọng hơn cả chính là sự thiếu tình thương. Người cha vốn dĩ phải là trụ cột gia đình nhưng lại trở thành kẻ tàn nhẫn, ích kỉ đến tận cùng với chính những đứa con của mình. Có thể nói, bi kịch từ người cha còn gây đau đớn và tổn thương sâu sắc hơn cả bi kịch từ cái đói.
− Bi kịch khi niềm hi vọng bị dập tắt:
+ Trong hoàn cảnh cùng cực, tia hi vọng đã loé lên với những đứa trẻ đáng thương. Khi nghe tiếng gọi dẹp mâm, lũ đã tươi tỉnh lại, chúng đứng cả lên và chực đu lấy cái mâm. Đó là niềm vui sướng xuất phát từ bản năng và sự mong chờ mãnh liệt của những đứa trẻ ngây thơ và đáng thương.
+ Tuy nhiên, sự thật lại vô cùng phũ phàng. Chị Gái đặt mâm xuống và chỉ còn lại chiếc bát không. Đây có thể coi là cú sốc tinh thần dữ dội đối với những còn người vừa nắm được một chút hi vọng mong manh.
+ Bi kịch của gia đình nghèo đã bùng nổ khi thằng cu Con khóc oà, giãy dụa, cào xé mẹ; người mẹ và những đứa con cũng xịu xuống và bắt đầu khóc theo. Đây là sự phản kháng dữ dội và đau đớn nhất theo bản năng thông thường của trẻ thơ. Phản ứng dữ dội này cũng chính là sự vùng vẫy và bất lực của những kiếp người nhỏ bé, đáng thương.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Thuyết minh về một cảnh quan thiên nhiên gắn bó với tuổi thơ.
c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:
HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
* Mở bài:
– Giới thiệu khái quát về cảnh quan thiên nhiên (dòng sông, cánh đồng, khu vườn, con đê, bãi biển,…).
– Gợi mối liên hệ với tuổi thơ: Nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm, cảm xúc sâu sắc.
* Thân bài:
– Cung cấp thông tin khách quan (Thuyết minh): Vị trí, nguồn gốc, các bộ phận, đặc điểm cấu tạo,...
– Vẻ đẹp chi tiết (Miêu tả): Dùng tính từ miêu tả hình dáng, màu sắc, âm thanh, ánh sáng,... để đối tượng hiện lên sinh động.
– Kể về những trải nghiệm (Tự sự): Lồng ghép một vài kỷ niệm đáng nhớ của bản thân gắn với đối tượng đó.
– Giá trị và ý nghĩa (Nghị luận): Đối tượng đó có vai trò gì với đời sống? Tại sao cần bảo tồn/ gìn giữ?
* Kết bài:
– Khẳng định lại giá trị: Đối tượng đó chiếm vị trí như thế nào trong lòng em.
– Lời hứa/ Lời kêu gọi: Hành động bảo vệ hoặc mong ước trong tương lai.