Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề kiểm tra cuối học kì I - Đề số 4 SVIP
(4,0 điểm) Đọc văn bản sau:
[Lược một đoạn: Vũ Như Tô bị bắt, được đưa vào cung để diện kiến vua. Trước khi gặp vua Lê Tương Dực, Đan Thiềm đã lén gặp Vũ Như Tô.]
VŨ NHƯ TÔ – Ủa? Bà nói như một người đồng bệnh.
ĐAN THIỀM – Chính là một người đồng bệnh, nên chưa biết ông, tôi đã ái ngại cho ông. Tài làm lụy ông, cũng như nhan sắc phụ người.
VŨ NHƯ TÔ – Thực mang tội với bà. Xin cho nghe chuyện.
ĐAN THIỀM – Ông tạm ngồi xuống cái đôn kia cũng được. Ông có mỏi không? Rõ khổ. Tài bao nhiêu lụy bấy nhiêu! Gông xích, trông ông tiều tuỵ quá, tôi lại càng thương số phận tôi. Tôi bị tuyển vào cung từ năm 17 tuổi. Hồi ấy tôi đã có người dạm hỏi. Tôi bị giam trong cung ngày ngày làm bạn với cảnh già. Rồi từ đấy đến nay, ngót 20 năm tôi chỉ đóng vai thị nữ hầu hạ từ vua cho đến các phi tần, nhiều kẻ kém cả tài lẫn sắc.
VŨ NHƯ TÔ – Tôi không ngờ lại được biết một đời cung oán nhãn tiền.
ĐAN THIỀM – Thân tôi không đáng kể đã đành, nhưng còn ông?
VŨ NHƯ TÔ – Cũng là thân không đáng kể.
ĐAN THIỀM – Sao lại không đáng kể? Hữu tài tất hữu dụng.
VŨ NHƯ TÔ – Cảnh ngộ chúng tôi có khác chi cảnh ngộ bà? Có phần khổ nhục hơn nữa. Chế độ thì nghiệt ngã vô lý: nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp. Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thử không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo. Mà nói ngay đến những bọn này nào họ có được yên thân. Họ phải lẩn lút, giấu giếm. Vô phúc mà triều đình biết, thế là gia đình tan nát. Họ bị đóng cũi giải kinh, để làm những công việc nhà vua, thân giam trong nội như một tên trọng phạm, mãi đến khi mắt mờ, tay chậm, họ mới được thải hồi nguyên quán. Triều đình còn không ban cho họ một chút bổng nhờ để mưu sống buổi tàn niên. Cách đối đãi như thế, thì nhân tài nhiều sao được, mà ai chịu luyện tập cho thành tài? Thậm chí người ta nói kẻ có tài đã không giúp cho gia đình, còn là một cái vạ nữa.
ĐAN THIỀM – Thảo nào mà nước ta không có lấy một lâu đài nào ra hồn, khả dĩ sánh với những lâu đài Trung Quốc. Ngay cả Chiêm Thành cũng hơn ta nhiều lắm...
VŨ NHƯ TÔ – Tôi bẩm sinh có khiếu về kiến trúc. Tôi đã học văn, sau bỏ văn tập nghề, nhưng tập thì tập, vẫn lo nơm nớp, chỉ sợ triều đình biết, thì vợ con ở nhà nheo nhóc, mà mình cũng không biết bao giờ được tháo cũi xổ lồng. Vua Hồng Thuận ngày nay càng khinh rẻ chúng tôi, cách đối đãi lại bạc ác. Chẳng qua là cái nợ tài hoa, chứ thực ra theo nghề ở ta lợi chẳng có mà nhục thì nhiều.
[…]
ĐAN THIỀM – Vậy thì các ông luyện nghề làm gì, luyện mà không đem ra thi thố?
VŨ NHƯ TÔ – Đó là nỗi khổ tâm của chúng tôi. Biết đa mang là khổ nhục mà không sao bỏ được. Như bóng theo hình. Chúng tôi vẫn chờ dịp.
ĐAN THIỀM – Dịp đấy chứ đâu? Cửu Trùng Đài...
VŨ NHƯ TÔ – Bà đừng nói nữa cho tôi thêm đau lòng. Ngày ngày, tôi thấy các bạn thân bị bắt giải kinh, người nhà khóc như đưa ma. Còn tôi, mong manh tin quan đến bắt, tôi đem mẹ già, vợ và hai con nhỏ đi trốn. Được một năm có kẻ tố giác, quan địa phương đem lính tráng đến vây kín nơi tôi ở. Tôi biết là tuyệt lộ, mặc cho họ gông cùm. (Chàng rơm rớm nước mắt.) Mẹ tôi chạy ra bị lính đẩy ngã, chết ngay bên chân tôi. Bọn sai nha lộng quyền quá thể. Rồi tôi bị giải lên tỉnh, từ tỉnh lên kinh, ăn uống kham khổ, roi vọt như mưa trên mình, lắm khi tôi chết lặng đi. Mẹ cháu lẽo đẽo theo sau, khóc lóc nhếch nhác, tôi càng đau xót can tràng. Cũng vì thế mà tôi thề là đành chết chứ không chịu làm gì.
ĐAN THIỀM – Cảnh ngộ của ông thì đáng thương thực. Nhưng ông nghĩ thế thì không được. […]
VŨ NHƯ TÔ – Tài đã không được trọng thì đem trả trời đất. Đó là lẽ thường. Cũng như nhan sắc...
ĐAN THIỀM – Không thể ví thế được, sắc vất đi được, nhưng tài phải đem dùng.
VŨ NHƯ TÔ – Bà đã thương tài xin giúp cho tôi trốn khỏi nơi này. Ơn đó xin...
ĐAN THIỀM – Tôi giúp cũng không khó gì. Nhưng ra khỏi chốn này liệu ông có thoát hẳn được không? Hơn nữa, cái vạ chu di cửu tộc vẫn còn sờ sờ ra đó. Ông đừng tính nước ấy, không nên.
VŨ NHƯ TÔ – Vậy bà khuyên tôi nên ở đây làm việc cho hôn quân sao?
ĐAN THIỀM – Miễn là ông không bỏ phí tài trời. Ông nên lợi dụng cơ hội đem tài ra thi thố. […]
VŨ NHƯ TÔ – Xây Cửu Trùng Đài cho một tên bạo chúa, một tên thoán nghịch, cho một lũ gái dâm ô? Tôi không thể đem tài ra làm một việc ô uế, muôn năm làm bia miệng cho người đời được.
ĐAN THIỀM – Ông biết một mà không biết hai. Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây. Ông không có tiền, ông không có thể dựng lấy một toà đài như ý nguyện. Chấp kinh, phải tòng quyền. Đây là lúc ông nên mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cái mộng lớn của ông... Ông khẽ tiếng. Đó là tiểu tiết. Ông cứ xây lấy một toà đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện, không phải thẹn với những cung điện đẹp nước ngoài, thế là đủ. Hậu thế sẽ xét công cho ông, và nhớ ơn ông mãi mãi. Ông hãy nghe tôi làm cho đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian.
VŨ NHƯ TÔ – Đa tạ. Bà đã khai cho cái óc u mê này. Thiếu chút nữa, tôi nhỡ cả. Những lời vàng ngọc tôi xin lĩnh giáo. Trời quá yêu nên tôi mới được gặp bà.
(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng, đăng trên https://thuvienleducanh.vn)
Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn):
Câu 1. Sự việc trong văn bản là gì?
Câu 2. Chỉ ra chỉ dẫn sân khấu trong văn bản và nêu tác dụng.
Câu 3. Từ “đồng bệnh” trong câu: “Bà nói như một người đồng bệnh.” của Vũ Như Tô có ý nghĩa gì trong việc khắc hoạ chân dung nhân vật Đan Thiềm?
Câu 4. Văn bản thể hiện xung đột giữa những nhân vật nào? Nêu ý nghĩa của xung đột đó đối với văn bản trên.
Câu 5. Ban đầu Vũ Như Tô có quyết định như thế nào đối với việc xây Cửu Trùng Đài? Theo anh/chị, vì sao sau khi được Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô lại thay đổi quyết định của mình?
Hướng dẫn giải:
Câu 1. (0,5 điểm)
Sự việc trong văn bản: Đan Thiềm khuyên giải Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài cho vua Lê Tương Dực.
Câu 2. (0,5 điểm)
– Chỉ dẫn sân khấu trong văn bản: (Chàng rơm rớm nước mắt.).
– Tác dụng của chỉ dẫn sân khấu: Giúp người đọc có thể dễ dàng hình dung các cử chỉ, cảm xúc của Vũ Như Tô một cách chân thực hơn; từ đó giúp cho người đọc hiểu rõ hơn nội dung của văn bản.
Câu 3. (1,0 điểm)
− Từ “đồng bệnh” nghĩa đen là có cùng bệnh, nghĩa bóng là người cùng hoàn cảnh. Và vì thế người “đồng bệnh” sẽ thấu hiểu, dễ thương cảm cho nhau hơn.
− Tác dụng: Trong ngữ cảnh của trích đoạn, từ “đồng bệnh” trong lời nói của Vũ Như Tô có tác dụng nhấn mạnh, khẳng định hoàn cảnh của nhân vật Đan Thiềm − một người phụ nữ nhỏ bé, đáng thương, bị chôn vùi tuổi xuân nơi cung cấm.
Câu 4. (1,0 điểm)
− Văn bản thể hiện xung đột giữa Vũ Như Tô và vua Lê Tương Dực. Cụ thể:
+ Vũ Như Tô không hề muốn cống hiến tài hoa của mình cho một hôn quân. Đây là quan niệm nghệ thuật thuần túy, thanh cao.
+ Lê Tương Dực muốn Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc với các cung nữ. Đây là một mong muốn rất đỗi tầm thường và thậm chí còn có phần ô trọc.
− Ý nghĩa: Chính mâu thuẫn giữa lí tưởng, khát vọng của Vũ Như Tô với mong muốn, quyền lực của hôn quân Lê Tương Dực đã góp phần làm nổi bật được chân dung nhân vật Vũ Như Tô − một người nghệ sĩ tài hoa, cương trực, quyết không chịu khuất phục trước quyền lực.
Câu 5. (1,0 điểm)
− Ban đầu Vũ Như Tô nhất quyết không chịu xây dựng Cửu Trùng Đài là vì chàng muốn giữ vững quan điểm nghệ thuật của mình, quyết không chịu cúi mình trước quyền lực, xây dựng Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực.
− Nhưng sau khi được Đan Thiềm, một người biết yêu, biết trân trọng cái đẹp khuyên nhủ, chàng đã lựa chọn việc xây dựng Cửu Trùng Đài là vì:
+ Trách nhiệm đối với gia đình, dòng tộc.
+ Muốn nhân đó mà đem cái tài của mình ra xây dựng cho đất nước một công trình lộng lẫy, “tranh tinh xảo với hoá công” để đất nước ta không thua kém với những nước láng giềng.
Câu 1. (2,0 điểm) Viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Đan Thiềm trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm) Từ câu chuyện của Vũ Như Tô, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn luận mối quan hệ giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia.
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm):
Phân tích nhân vật Đan Thiềm.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Số phận: Là người phụ nữ xinh đẹp nhưng đáng thương: Tôi bị tuyển vào cung từ năm 17 tuổi. Hồi ấy tôi đã có người dạm hỏi. Tôi bị giam trong cung ngày ngày làm bạn với cảnh già. Rồi từ đấy đến nay, ngót 20 năm tôi chỉ đóng vai thị nữ hầu hạ từ vua cho đến các phi tần, nhiều kẻ kém cả tài lẫn sắc.
=> Nhan sắc, xuân xanh bị chôn vùi nơi cung cấm lạnh lẽo, không được hưởng hạnh phúc.
+ Phẩm chất: Là người trọng nghĩa khinh tài, biết yêu và trân trọng cái đẹp:
++ Xót xa cho hoàn cảnh của Vũ Như Tô.
++ Không muốn Vũ Như Tô chết uổng, để phí tài năng quý báu mà trời ban nên ra sức khuyên giải (về trách nhiệm với gia đình, dòng tộc; về khát vọng, ước mơ đem tài năng ra thi thố với đời) để Vũ Như Tô đồng ý xây Cửu Trùng Đài cho vua Lê Tương Dực.
=> Là con người đáng quý, biết trọng cái đẹp và trân quý con người tài năng tạo ra cái đẹp.
Câu 2.
a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm):
− Xác định đúng kiểu bài: Nghị luận về một vấn đề xã hội.
− Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài viết.
b. Xác định được đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm):
Bàn luận về mối quan hệ giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (3,5 điểm):
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
c1. Mở bài: Giới thiệu về vấn đề xã hội cần bàn luận.
c2. Thân bài: Đưa ra những luận điểm, lí lẽ, bằng chứng để làm sáng tỏ vấn đề. Sau đây là gợi ý:
* Giải thích:
– Hiền tài: Người có tài năng, trí tuệ, tâm huyết, có khả năng cống hiến lớn cho xã hội.
– Sự nghiệp quốc gia: Những mục tiêu, công cuộc lớn của đất nước nhằm đem lại ấm no, hạnh phúc, phát triển bền vững cho nhân dân.
=> Đây là mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, tác động trực tiếp đến sự thịnh suy của đất nước.
* Bàn luận về mối quan hệ giữa hiền tài và sự nghiệp quốc gia:
– Hiền tài là yếu tố quan trọng tạo nên sự thịnh trị của một dân tộc: Trong lịch sử nhân loại, mọi thời đại phát triển (theo nghĩa phát triển tốt hơn hoặc bứt phá về tình cảnh, diễn biến theo hướng đi lên) đều gắn với những con người tài năng, đem hết sức mình ra giúp nước. Ví dụ, ở Việt Nam có những bậc hiền tài Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Hồ Chí Minh,… đã từng đem hết tài năng của mình góp vào sự nghiệp dân tộc. Trong văn bản Hiền tài là nguyên khí quốc gia, tác giả Thân Nhân Trung cũng từng nhận định: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thị thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp.
– Quốc gia muốn phát triển thì cần biết trọng dụng người tài, phải có những chính sách, đãi ngộ phù hợp để khuyến khích người tài góp sức:
+ Vũ Như Tô là một người có tài năng lớn, có hoài bão tốt đẹp nhưng vua Lê Tương Dực lại bắt bớ, ép buộc chàng xây Cửu Trùng Đài. Ngược đãi người lao động, không có chính sách, đãi ngộ phù hợp cho những người thợ tài,… là những nguyên nhân khiến vua Lê Tương Dực không được lòng người, không thu hút được người tài đem công ra giúp nước để nước Nam ta có một công trình tinh xảo.
+ Vua Lê Thánh Tông vì muốn khích lệ người tài nên đã cho dựng đá đề danh những người tài giỏi, đã gắng sức mình mà giúp nước, cho đặt ở cửa Văn Miếu để lưu danh sáng của họ lâu dài, khiến kẻ sĩ đời sau nhìn vào thấy phấn chấn, chủ động, tích cực hơn mà giúp nước.
* Liên hệ, mở rộng:
– Phản đề: Dù đãi ngộ, chính sách là những gì mà người hiền tài xứng đáng được hưởng song mỗi cá nhân cần luôn có ý thức đóng góp sức mình cho Tổ quốc, không nên vì cân nhắc danh lợi, xem xét đãi ngộ mà đất nước dành cho hiền tài có đủ tốt hay không mà chần chừ hay chối bỏ trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong quá khứ, khi đất nước lâm nguy, nhiều người trẻ sẵn sàng xếp bút nghiên, chủ động viết đơn xin ra mặt trận để chiến đấu vì Tổ quốc. Đây là tinh thần hiến dấng vì dân tộc, là biểu hiện của lòng yêu Tổ quốc và tinh thần trách nhiệm đối với đất nước. Như lời bài hát “Khát vọng tuổi trẻ” của nhạc sĩ Vũ Hoàng: Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta, mà cần hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay.
– Giải pháp:
+ Cá nhân:
++ Có lý tưởng đúng đắn, có ý thức trách nhiệm đối với dân tộc.
++ Cần tránh chạy theo danh vọng, quyền lực mù quáng mà quên đi trách nhiệm của mình đối với đất nước.
+ Đất nước, xã hội:
++ Tôn trọng, tạo điều kiện để hiền tài phát huy khả năng.
++ Có chính sách, đãi ngộ phù hợp để thu hút nhân tài, giữ chân hiền tài.
++ …
c3. Kết bài: Khái quát lại vấn đề nghị luận.