Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Đề khảo sát chất lượng học sinh lớp 12 (Lần 2) SVIP
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn văn bản sau:
Mỗi người đều có những khả năng nhất định. Nhưng điều quyết định thành bại trong đời không phải là việc sở hữu tiềm năng, mà là việc bạn sẽ sử dụng nó ra sao.
Khả năng của con người cũng giống như những cơ bắp vậy, nếu không rèn luyện, không sử dụng, chúng sẽ ngày càng yếu đi.
Ngay cả khi ta đã rèn luyện khả năng của mình đến một mức độ chuyên môn nhất định, nếu không chú tâm cố gắng mài giũa nó hằng ngày, khả năng của mình vẫn có nguy cơ mai một và biến mất.
Ở đời rất khó để đi lên nhưng rất dễ để đi xuống. Xây dựng tài năng phải mất mười năm mà đánh mất tài năng chỉ cần mười tuần. Và ở đời cũng rất dễ để đi lên nếu người ta đang ở dưới đáy. Nhưng rất khó đi lên khi đã ở mức lưng chừng. Khi đã có một số thứ, đã có tí tài năng, đã có tí vật chất, đã có cái để mất, có cuộc sống thoải mái dễ chịu, thì cũng mất dần động lực để vươn lên mức tiếp theo.
Và không ít người bị mắc kẹt ở mức lưng chừng như vậy. Chìm vào những trò giải trí đơn thuần. Thư giãn quá nhiều, tận hưởng quá nhiều. Không quý trọng thời gian. Bị rơi vào cái bẫy của hội chứng “vừa đủ”. Và cứ thế, không thể sống được hết với tiềm năng của chính mình.
(Rosie Nguyễn, Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu?, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2021, tr.209)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định luận đề của đoạn trích trên.
Câu 2. Theo tác giả, khi nào con người rất khó đi lên?
Câu 3. Phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: Khả năng của con người cũng giống như những cơ bắp vậy, nếu không rèn luyện, không sử dụng, chúng sẽ ngày càng yếu đi.
Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về hội chứng “vừa đủ” được tác giả nói đến trong đoạn trích? Câu 5. Hai ngữ liệu sau có sự tương đồng nào về ý nghĩa?
– Ngay cả khi ta đã rèn luyện khả năng của mình đến một mức độ chuyên môn nhất định, nếu không chú tâm cố gắng mài giũa nó hằng ngày, khả năng của mình vẫn có nguy cơ mai một và biến mất.
(Rosie Nguyễn, Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu?)
– Không có gì tự đến, dẫu bình thường,
Phải bằng cả đôi tay và nghị lực
Như con chim suốt ngày chọn hạt
Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.
(Nguyễn Đăng Tấn, Không có gì tự đến đâu con)
Hướng dẫn giải:
Câu 1. Luận đề của đoạn trích: Điều quyết định thành bại trong đời con người không phải ở việc sở hữu tiềm năng mà ở việc sử dụng nó.
Câu 2. Theo tác giả: Con người rất khó đi lên khi đã ở mức lưng chừng.
Câu 3.
– Biện pháp tu từ so sánh: So sánh khả năng của con người giống như những cơ bắp.
– Tác dụng:
+ Làm cho câu văn sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh, tăng giá trị biểu đạt.
+ Giống như cơ bắp phải rèn luyện mới rắn rỏi, khả năng của con người phải rèn giũa mỗi ngày mới phát triển. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải nỗ lực không ngừng để phát huy tiềm năng của con người.
Câu 4.
– Hội chứng “vừa đủ” là tâm lí hài lòng với mức tối thiểu ổn định, không cần phấn đấu dù bản thân có khả năng.
– Đây là tâm lí dễ nảy sinh khi con người ở mức lưng chừng, đã có một số thứ, có tí tài năng, có cái để mất, có cuộc sống thoải mái, dễ chịu.
– Hội chứng “vừa đi” biểu hiện ở xu hướng tận hưởng quá nhiều, không quý trọng thời gian và mất dần động lực để vươn lên tốt hơn. Điều này khiến con người không thể sống hết với tiềm năng.
Câu 5.
Điểm tương đồng của 02 ngữ liệu:
– Cả 2 ngữ liệu đều đề cao vai trò chủ động rèn luyện, nỗ lực của con người. Theo Rosie Nguyễn sự mài giũa hằng ngày giúp khả năng của con người không bị mai một. Theo Nguyễn Đăng Tấn sự miệt mài và nghị lực mới đem đến những giá trị cho con người.
– Cả 2 ngữ liệu đều mang đến triết lí sâu sắc về cách sống chủ động, tích cực.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Từ nội dung được gợi ra ở đoạn văn bản phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về động lực để nỗ lực mỗi ngày của người trẻ.
Câu 2. (4,0 điểm)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Thời gian trắng của Nguyễn Phan Quế Mai(1):
[...] Tôi ngồi sau xe
Lắng nghe ông kể chuyện
Nghe gió Trường Sơn thổi về từ mái tóc bồng bềnh điểm bạc
Nghe nắng miền Trung hát trên đôi vai gầy guộc
Nghe tiếng súng xuyên về từ ngày tôi chưa sinh
Người lính già
Đem giọt mưa xa về mắt tôi
Giọt mưa mang vị ngọt chiến thắng, vị đắng cuộc chiến đã xa ông vĩnh viễn
ghi tên mình vào nó
Vị mặn trăn trở – "rồi có ai còn nhớ tới Trường Sơn"
Và, vị cay của cuộc sống đời thường tấp nập chảy quanh tôi
như chỉ biết vươn mình
về phía trước về phía trước
phía trước…
Mà quên đi
Quên đi
Những người lính và những câu chuyện cần được kể
Quên đi
Người lính già bé nhỏ
Cạnh ngã tư đường
thời gian trắng qua đôi bàn tay.
(https://dansinh.dantri.com.vn/dien-dan-dan-sinh/tho-nguyen-phan-que-mai-to-quoc-goi-ten- 20150726042836000.htm)
(1) Nguyễn Phan Quế Mai (sinh năm 1973) là một nữ nhà văn, nhà thơ người Việt Nam và là tác giả đồng hành của tổ chức Room to Read. Các tác phẩm nổi tiếng: Cởi gió (tập thơ đoạt giải Nhất, Giải thưởng thơ năm 2010 của Hội Nhà Văn Hà Nội); Tổ quốc gọi tên mình (tập thơ); The Mountains Sing (Những ngọn núi ngân vang) – tiểu thuyết đầu tay của cô đã trở thành một cuốn sách bán chạy toàn cầu. Thơ Nguyễn Phan Quế Mai nặng tình với đất nước quê hương, có nhiều sáng tạo về hình thức nghệ thuật. Thời gian trắng in trong tập thơ Tổ quốc gọi tên mình, viết về cuộc gặp gỡ giữa tác giả và một người lính Trường Sơn nay mưu sinh bằng nghề xe ôm. Từ câu chuyện ấy, bài thơ gợi suy tư về ký ức chiến tranh và nỗi lo con người hôm nay lãng quên những hi sinh của thế hệ đi trước.
Hướng dẫn giải:
Câu 1.
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Động lực để nỗ lực mỗi ngày của người trẻ.
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo những nội dung sau:
– Động lực để nỗ lực mỗi ngày là những yếu tố thúc đẩy con người không ngừng cố gắng học tập, rèn luyện, hành động để phấn đấu, kiên trì theo đuổi mục tiêu.
– Động lực giúp con người kiên trì, quyết tâm; có dũng khí và bản lĩnh đối mặt và vượt qua khó khăn; không thỏa hiệp với tâm lí “vừa đủ”...
– Mỗi người có động lực riêng để nỗ lực mỗi ngày:
Gợi ý: Động lực để kiên trì nỗ lực mỗi ngày có thể là:
+ Ước mơ và khát vọng tương lai: Mong muốn đạt được thành công, có cuộc sống tốt đẹp.
+ Gia đình và những người thân yêu: Mong muốn mang lại niềm tự hào và cuộc sống tốt hơn cho gia đình.
+ Khát vọng khẳng định bản thân: Chứng minh năng lực, giá trị của mình trong xã hội.
+ Tinh thần cống hiến: Mong muốn đóng góp cho cộng đồng và đất nước.
+ Mong muốn hoàn thiện bản thân: Trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.
+ Ngưỡng mộ những tấm gương thành đạt, những người có ý chí, nghị lực: Mong muốn trở thành những người truyền cảm hứng như những người nổi tiếng ấy.
(Thí sinh có thể đưa ra một hoặc nhiều động lực và lí giải thuyết phục bằng lí lẽ, dẫn chứng.)
d. Diễn đạt, dùng từ, viết câu:
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, viết câu.
e. Sáng tạo:
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
Câu 2.
a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận: Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích đoạn thơ trong bài thơ Thời gian trắng của Nguyễn Phan Quế Mai.
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu:
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
* Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề cần nghị luận.
* Phân tích nội dung của đoạn thơ:
– Nội dung khái quát: Đoạn thơ viết về cảm xúc và trăn trở của tôi khi nghe câu chuyện của người lính Trường Sơn giữa đời thường hôm nay. Từ đó, đoạn thơ gợi suy tư về ký ức chiến tranh và nỗi lo con người hôm nay lãng quên những hi sinh của thế hệ đi trước.
– Phân tích nội dung cụ thể của đoạn thơ:
+ Khổ 1: Câu chuyện của người lính già.
++ Là dòng hồi ức về những năm tháng chiến tranh với gió Trường Sơn, nắng miền Trung, tiếng súng nổ.
++ Âm vang một thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc và ngời sáng vẻ đẹp những người lính cách mạng.
++ Kết nối quá khứ và hiện tại, kết nối thế hệ (Nghe tiếng súng xuyên về từ ngày tôi chưa sinh).
+ Khổ 2: Cảm xúc của tôi khi nghe câu chuyện của người lính già.
++ Xúc động, tự hào về những người lính anh hùng đã làm nên vị ngọt chiến thắng cho dân tộc, khắc tên mình vào lịch sử.
++ Trăn trở, xót xa khi quá khứ hào hùng bị cuộc sống tấp nập đời thường đẩy vào quên lãng (rồi có ai còn nhớ tới Trường Sơn).
+ Khổ 3: Suy tư của tôi.
++ Day dứt trước sự lãng quên của con người về quá khứ lịch sử của dân tộc, quên đi những câu chuyện cần được kể .
++ Xót xa khi thân phận người lính sau chiến tranh không còn ai để ý quan tâm.
– Đánh giá: Đoạn thơ là những cảm xúc và suy tư sâu sắc của tác giả về sự nghiệt ngã của thời gian và sự vô tình của con người khi lãng quên quá khứ. Từ đó thức tỉnh con người phải biết trân trọng lịch sử và những thế hệ đi trước.
* Phân tích đặc sắc nghệ thuật của bài thơ.
– Thể thơ tự do: Các câu thơ dài ngắn đan xen, cách ngắt nhịp linh hoạt.
– Giọng điệu vừa tha thiết, trang trọng vừa day dứt, trăn trở.
– Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố tự sự và trữ tình.
– Hình ảnh thơ giàu tính biểu tượng (hình ảnh Thời gian trắng: Gợi sự xóa nhòa, theo đó thời gian trôi khiến kí ức của chiến tranh và sự hi sinh của người lính bị nhòa đi trong sự quên lãng;...).
– Kết hợp các biện pháp tu từ: Điệp ngữ, liệt kê, ẩn dụ, so sánh...
– Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi.
d. Diễn đạt, dùng từ, viết câu:
Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, viết câu.
e. Sáng tạo:
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.