Bài học liên quan
Câu
1
1đ
Vì sao kim loại có tính dẻo?
Do electron tự do gắn các cation kim loại với nhau nên khi chịu tác động của lực bên ngoài, các lớp cation kim loại có thể trượt lên nhau mà không tách rời.
Do lực liên kết giữa các nguyên tử kim loại rất yếu, cho phép các lớp nguyên tử dễ dàng tách rời và trượt qua nhau khi có ngoại lực tác động.
Do trong tinh thể kim loại có các khoảng trống lớn giữa các nút mạng, giúp các ion kim loại có không gian để di chuyển tự do khi bị rèn hoặc dát mỏng.
Do các nguyên tử kim loại có kích thước rất nhỏ nên có thể dễ dàng thay đổi vị trí khi bị nén hoặc kéo giãn mà không làm thay đổi cấu trúc tinh thể.
Câu
2
1đ
Câu 1:
a) Phát biểu nào sau đây là đúng khi nói về sự khác biệt giữa liên kết kim loại và liên kết cộng hóa trị?
Trong liên kết cộng hóa trị, các electron có thể di chuyển tự do khắp khối chất, còn trong liên kết kim loại, electron bị giữ chặt giữa hai hạt nhân nguyên tử.
Liên kết cộng hóa trị có các cặp electron dùng chung giữa các nguyên tử, còn liên kết kim loại có các electron tự do dùng chung cho toàn bộ tinh thể.
Liên kết cộng hóa trị chỉ tồn tại trong các đơn chất kim loại, còn liên kết kim loại chỉ tồn tại trong các hợp chất được tạo bởi phi kim.
Liên kết cộng hóa trị được hình thành do lực hút tĩnh điện giữa các ion trái dấu, còn liên kết kim loại hình thành do sự góp chung các cặp electron hóa trị.
Câu 2:
b) Vì sao kim loại có tính dẫn điện, trong khi hầu hết các phi kim không dẫn điện?
Do tinh thể kim loại chứa các electron có thể di chuyển thành dòng dưới tác dụng của điện trường, còn trong phi kim các electron bị liên kết chặt chẽ.
Do các nguyên tử kim loại luôn mang điện tích dương nên tự bản thân chúng có thể dẫn điện, còn phi kim không mang điện.
Do kim loại có cấu trúc mạng tinh thể lỏng lẻo, dễ bị tách dời nên các nguyên tử di chuyển tự do và mang theo điện tích, còn phi kim có cấu trúc đặc khít.
Do kim loại có khả năng hấp thụ các hạt proton từ môi trường để tạo thành dòng điện, còn phi kim thì đẩy các hạt này.
Câu
3
1đ
Vì sao kim loại có tính dẫn nhiệt tốt?
Do các electron tự do trong kim loại tập trung lại để tạo thành một lớp màng có khả năng cách nhiệt, giúp giữ và phản xạ nhiệt năng bên trong khối kim loại.
Do mạng tinh thể kim loại có cấu trúc rỗng, tạo điều kiện cho nhiệt năng lan tỏa nhanh chóng thông qua sự đối lưu của không khí bên trong.
Do các electron tự do ở vùng nhiệt độ cao có động năng lớn, chuyển động hỗn loạn sang vùng nhiệt độ thấp và truyền năng lượng cho các cation kim loại.
Do các cation kim loại tại nút mạng tinh thể có khả năng di chuyển tự do từ vùng nhiệt độ cao sang vùng nhiệt độ thấp để truyền nhiệt năng.
Câu
4
1đ
Vì sao kim loại có ánh kim?
Do bề mặt kim loại luôn có một lớp oxide mỏng có khả năng phát quang khi có ánh sáng mặt trời chiếu vào.
Do các cation kim loại tại nút mạng có khả năng hấp thụ ánh sáng và phát xạ lại dưới dạng nhiệt năng.
Do các electron tự do trong tinh thể kim loại có khả năng phản xạ những tia sáng nhìn thấy được chiếu tới chúng.
Do cấu trúc mạng tinh thể kim loại có các lỗ rỗng cho phép ánh sáng đi xuyên qua và tán xạ ngược lại môi trường.
Câu
5
1đ
Khi tác dụng với phi kim, kim loại thể hiện tính chất hoá học gì?
Tính khử.
Tính acid.
Tính oxi hóa.
Tính base.
Câu
6
1đ
Những kim loại nào trong Bảng 15.1 có thể phản ứng được với nước ở nhiệt độ thường, giải phóng khí hydrogen?

Calcium (Ca).
Sodium (Na).
Aluminium (Al).
Lithium (Li).
Potassium (K).
Magnesium (Mg).
Iron (Fe).
Barium (Ba).
Câu
7
1đ
Vì sao các kim loại từ Cu đến Au trong dãy điện hoá không đẩy được H2 ra khỏi dung dịch của các acid như HCl, H2SO4 loãng?
Do các kim loại này có tính khử mạnh hơn hydrogen nên chúng không phản ứng với ion H+ ở điều kiện thường.
Do các kim loại này có thế điện cực chuẩn nhỏ hơn 0, dẫn đến việc chúng bị thụ động hóa trong môi trường acid loãng.
Do các kim loại từ Cu đến Au là những kim loại nhẹ, không có đủ khối lượng để đẩy các phân tử hydrogen ra khỏi liên kết hóa học của acid.
Do các kim loại này có thế điện cực chuẩn lớn hơn 0 (2H+/H2) nên không có khả năng khử được ion H+ trong dung dịch acid thành H2.