Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Axit có thể được hình thành theo nhiều cách khác nhau, ví dụ như: qua phản ứng hóa học của các khí độc SO2, NO2 với nước trong khí quyển để tạo thành axit sulfuric và nitric (hình thành mưa axit); thông qua phản ứng oxy hóa các chất như lưu huỳnh, sau đó hòa tan oxit vào nước để tạo thành axit; hoặc thông qua quá trình lên men phân hủy protein trong thực vật để tạo thành axit amin.
Các khí như sulfur dioxide (SO2) và nitrogen dioxide (NO2) bay vào khí quyển, gặp hơi nước (H2O) và oxy (O2), sau đó tham gia phản ứng hóa học tạo thành axit sulfuric (H2SO4) và axit nitric (HNO3).
Các chất như lưu huỳnh được đốt cháy trong không khí tạo ra oxit lưu huỳnh (SO2). Khi oxit này hòa tan trong nước, nó sẽ tạo thành axit sulfurơ (H2SO3).
Axit có thể được tạo ra thông qua các phản ứng hóa học khác. Ví dụ, axit clohidric (HCl) là một axit được hình thành từ phản ứng của hydro (H2) và clo (Cl2).
- Mây được hình thành do nước ở sông, hồ, biển bay hơi rồi gặp lạnh xảy ra hiện tượng ngưng tụ biến thành những hạt nước nhỏ li ti. Nhiều hạt nước nhỏ li ti hợp lại với nhau tạo thành mây.
- Mưa được tạo thành khi mây bay lên cao gặp không khí lạnh hơn, những hạt nước nhỏ đọng lại thành các giọt có khối lượng lớn hơn, đến một giới hạn nào đó những giọt nước này sẽ rơi xuống tạo thành mưa.
-Nước ở sông, hồ, biển bay hơi vào không khí. Càng lên cao, gặp không khí lạnh hơi nước ngưng tụ thành những hạt nước nhỏ li ti. Nhiều hạt nước nhỏ đó kết hợp với nhau tạo thành mây.
-Các đám mây được bay lên cao hơn nhờ gió. Càng lên cao càng lạnh. Các hạt nước nhỏ kết hợp thành những giọt nước lớn hơn, trĩu nặng và rơi xuống tạo thành mưa.
Nước ở sông, hồ, biển bay hơi vào không khí. Càng lên cao, gặp không khí lạnh hơi nước ngưng tụ thành những hạt nước nhỏ li ti. Nhiều hạt nước nhỏ đó kết hợp với nhau tạo thành mây.
Có rất nhiều nguyên nhân hình thành nên mây, nguyên nhân chính là do không khí ẩm ướt bốc lên. Trong quá trình vận động đi lên, do khí áp bên ngoài giảm theo độ cao, nhưng thể tích của nó lại tăng lên nên trong quá trình tăng lên đó cần tiêu hao nhiệt lượng. Như vậy không khí vừa tăng vừa giảm nhiệt. Chúng ta đều biết khả năng chứa đựng hơi nước trong không khí có hạn chế nhất định, trong nhiệt độ nhất định, giới hạn lớn nhất của đơn vị thể tích không khí có áp suất hơi nước của một lượng nước tương ứng được gọi áp suất hơi nước bão hòa.
HT
trả lời
mây được nước bốc hơi nên tạo thành
htttttt
| Dụng cụ và cách tiến hành | Nhận xét hình dạng của nước |
| Bước 1. Đổ nước vào một chai nhựa trong và đậy chặt nút | Nước thẳng đứng |
| Bước 2. Để chai nước nằm ngang. | Nước nằm ngang |
| Bước 4. Dốc ngược chai nước | Nước nằm ngược |
| Kết luận rút qua thí nghiệm trên | Nước không có hình dạng nhất định |
vận tốc giãn nở trung bình của vũ trụ gấp ba lần tốc độ ánh sáng
| Dụng cụ và cách tiến hành | Nhận xét và kết luận |
| Đổ nước lên mặt một tấm kính được đặt nghiêng trên một khay nằm ngang. | Nước chảy từ khay xuống từ cao xuống thấp, lan ra mọi phía. |
- Bóng tối sẽ xuất hiện trên tờ bìa, có hình dạng giống quyển sách. Bóng tối càng to khi dịch đèn lại gần quyển sách.
- Khi thay quyển sách bằng vỏ hộp ta thấy bóng tối có hình chữ nhật.
- Thay vỏe hộp bằng một tờ bìa trong ta không thấy bóng tối xuất hiện trên tớ bìa.
câu 1 : cát silica (cát thạch anh) và hóa chất tạo màu thủy tinh là mangan điôxit. Lưu ý tất cả nguyên liệu sản xuất thủy tinh phải sạch không tạp chất để cho thủy tinh có màu nguyên bản. Bước thứ hai trong quy trình là bổ sung natri cacbonat (NANCO3) và Canxi ôxít (CaO) vào cát.
câu 2 :Nước nguồn -> Ngăn lắng cặn thô -> Ngăn lọc chậm -> Ngăn chứa nước sạch -> Sử dụng. Các cơ sở tính toán khoa học là: - Vận tốc lắng trong ngăn sơ lắng không vượt quá 0,7 mm/giây.
câu 3 : nước chiếm khoảng 70% trọng lượng trong cơ thể và phân bố không đồng đều ở các cơ quan, tổ chức khác nhau. Tổng lượng nước trong cơ thể là không cố định mà giảm dần theo độ tuổi. Đối với trẻ sơ sinh, tổng lượng nước chiếm khoảng 75 - 80% cơ thể.
( mk tra google đóa , nhưng k cho mk đuy )

Mô hình Big Bang (vụ nổ lớn) cho rằng vũ trụ khởi thuỷ bằng một vụ nổ khoảng 15 tỷ năm trước. Tại vụ nổ, kích thước vũ trụ được xem là bằng không nên mật độ năng lượng và nhiệt độ vô cùng lớn. Sau vụ nổ, vũ trụ giãn nở và nguội dần, cho phép thành các cấu trúc như ta đã thấy ngày nay.
vũ trụ khởi thuỷ bằng một vụ nổ khoảng 15 tỷ năm trước. Tại vụ nổ, kích thước vũ trụ được xem là bằng không nên mật độ năng lượng và nhiệt độ vô cùng lớn. Sau vụ nổ, vũ trụ giãn nở và nguội dần, cho phép thành các cấu trúc như ta đã thấy ngày nay.
Ƭrong những năm qua, các nhà khoa học luôn cho rằng vụ trụ được hình thành sɑu một sự kiện gọi là vụ nổ lớn (Big Bang). Ƭheo thuyết này, vũ trụ trong quá khứ có kích thước rất nhỏ, nóng và chứɑ lượng vật chất dày đặc. Đến khoảng 13,8 tỷ năm trước, một vụ nổ xảу ra hình thành nên không gian, năng lượng và vật chất để tạo rɑ vũ trụ như hiện nay.
Ngay sɑu vụ nổ, các hạt nguyên tử cơ bản củɑ vũ trụ được hình thành gồm neutron, ρroton, electron, photon... Khi vũ trụ nguội đi, các neutron ρhân rã thành electron hoặc proton, hoặc kết hợρ với proton để tạo ra đơteri (một đồng vị củɑ hydro).
Vũ trụ nguội thêm dẫn đến nhiều sự kết hợρ hơn: electron hợp nhất với hạt nhân tạo nên các nguуên tử trung tính, photon tạo thành nền vi sóng vũ trụ (cosmic microwave background). Ƭóm lại, mọi nguyên tố cơ bản nhất củɑ vũ trụ được hình thành chỉ vài phút sɑu vụ nổ Big Bang.
Từ đó đến nɑy, mọi quan sát, nghiên cứu về vũ trụ đều dựɑ trên thuyết Big Bang. Các nhà thiên văn học đã ρhân tích bức xạ còn sót lại từ thời kỳ đầu củɑ vũ trụ đến đo lường các nguyên tố nhẹ nhất, tất cả chúng đều trùng khớρ với dự đoán của thuyết Big Bang. Ɲói cách khác, Big Bang chính là bức tranh chính xác về sự hình thành của vũ trụ.