Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Mục đích chính của các nước thắng trận họp tại Hội nghị ở Véc-xai và Oasinhtơn là gì?
C. Ký hòa ước và các hiệp ước phân chia quyền lợi
Nhà Văn Mô lie ( 1622-1673) là nhà hài kịch cổ điển pháp, nổi tiếng với những tác phẩm Đông Jang, lão hà tiện, người bệnh tưởng. Riêng tác phẩm lão hà tiện có nội dung:
Nhân vật chính trong Lão hà tiện là Harpagon (tiếng Latin có nghĩa là keo kiệt) - một tay tư sản giàu sụ luôn tìm mọi phương kế để kiếm thật nhiều tiền. Và cho vay nợ lãi là một trong số phương thức mà lão đã dùng. Harpagon khoảng 60 tuổi, góa vợ, có 2 người con là Cléante và Élise. Cả hai đều có những mối tình thắm thiết. Cléante yêu nàng Mariane xinh đẹp, một cô gái sống nghèo khổ nhưng cũng là người mà cha chàng đang ngấp nghé để cưới làm vợ. Chính điều này đã gây ra cuộc cãi vã gay gắt giữa hai người, làm sứt mẻ tình cha con bấy lâu. Élise yêu Valère nhưng bố nàng lại buộc nàng phải kết hôn với Anselme - một người đã có tuổi nhưng giàu có và không đòi của hồi môn. Quyết định này cũng làm cho mối quan hệ giữa hai cha con ngày càng trở nên căng thẳng.
Với sự giúp đỡ của gã đầy tớ ranh ma La Flèche, Cléante tìm mọi cách vay món tiền lớn để thỏa chí tiêu pha hoang tàng. Nhờ một người môi giới, anh ta tìm đến một người cho vay nặng lãi. Song, đến khi ký giao kèo, mới té ra người cho vay ấy chính là Harpagon và Harpagon mới vỡ lẽ kẻ đi vay nặng lãi, chính là con trai mình. Hốt hoảng, lão tìm cách đề phòng cái tráp vàng lão chôn trong vườn. Lão vẫn quyết tâm lấy Mariane. Trong buổi gặp gỡ với Mariane, Harpagon khám phá ra rằng con trai lão cũng yêu Mariane, rồi tiếp đó, một tin sét đánh khác: cái tráp vàng của lão không cánh mà bay. Lão hớt hơ hớt hải, kêu la. Trong một cuộc gặp gỡ với Anselme, tình cờ mọi người mới biết Anselme là cha của Mariane và Valère, và La Flèche đã lấy cắp tráp vàng cho cậu chủ Cléante của mình. Harpagon bị rơi vào tình huống nan giải buộc phải lựa chọn: hoặc là tráp vàng hoặc là để Cléante kết hôn cùng Mariane. Nhưng với bản tính keo kiệt và hám tiền, Harpagon bằng lòng gả Élise cho Valère và “nhường” Mariane cho Cléante, sau khi Anselme bằng lòng chịu mọi phí tổn về lễ cưới của con trai và con gái mình, và sung sướng lấy lại được vàng.
>> tác phẩm phản ảnh sự bốc lột, hà khắc của giai cấp tư sản
- Những người khốn khổ :
- Ghi lại những nét hiện thực về xã hội Pháp vào khoảng 1830. Một xã hội tư sản tàn bạo được phản ánh trong những nhân vật phản diện như Giave, Tênácđiê. Tình trạng cùng khổ của người dân lao động cũng được mô tả bằng những cảnh thương tâm của một người cố nông sau trở thành tù phạm, một người mẹ, một đứa trẻ sống trong cảnh khủng khiếp của cuộc đời tối tăm, ngạt thở. Dưới ngòi bút của Hugo, Paris ngày cách mạng 1832 đã sống dậy, tưng bừng, anh dũng, một Paris nghèo khổ nhưng thiết tha yêu tự do.
- Diễn tả xã hội tư sản với một số nhân vật độc ác, tàn nhẫn, vô lương tâm , trình bày chế độ như một thực thể nhất trí trong việc áp bức, bóc lột, ruồng rẫy những người cùng khổ, đè lên người họ như một thứ định mệnh khốc liệt với các thứ công cụ ghê tởm như tòa án, tổ chức cảnh binh, quân đội, nhà tù, với báo chí, dư luận, thành kiến, tập quán.
Ngày 1-1-1942, tại Oa-sinh-tơn, 26 quốc gia (đứng đầu là ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh) đã ra một bản tuyên bố chung gọi là Tuyên ngôn Liên hợp quốc. Các nước tham gia Tuyên ngôn cam kết cùng nhau tiến hành cuộc chiến đấu chống phát xít với toàn bộ lực lượng của mình. Sự kiện này đánh dấu khối Đồng minh chống phát xít được hình thành.
Đáp án cần chọn là: D
Những tiến bộ về khoa học- kĩ thuật đã thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển với tốc độ cao. Sự tăng trưởng của kinh tế thế giới đã làm thay đổi đời sống chính trị- xã hội, văn hóa của các quốc gia, dân tộc và toàn thế giới.
Đáp án cần chọn là: A
Tham khảo:
Đầu những năm của thế kỷ XIX vùng Đông Nam Á rộng lớn trở thành mục tiêu của các nước đế quốc. Đông Nam Á sớm bị dòm ngó, trở thành mục tiêu xâm lược của thực dân phương Tây bởi Đông Nam Á có vị trí chiến lược quan trọng, giàu tài nguyên thiên nhiên và có nền văn hóa lâu đời. Hơn nữa từ giữa thế kỉ XIX, chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng trầm trọng, kéo dài về chính trị, kinh tế, xã hội. Giữa XIX, thực dân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan tiến hành xâm lược In-đô-ne-xi-a. Từ năm 1899-1902 Mĩ chiến tranh xâm lược Philippin, biến quần đảo, này thành thuộc địa của mình. Thực dân Anh sau hơn 60 năm (1824 - 1885), tiến hành ba cuộc chiến tranh mới chiếm được Miến Điện. Thực dân Pháp trải qua cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài gần nửa thế kỉ (1858 - 1893) để hoàn thành việc xâm chiếm 3 nước Đông Dương. Đến đầu thế kỉ XX, thực dân phương Tây hoàn thành quá trình xâm chiếm và thôn tính Đông Nam Á trừ Xiêm (Thái Lan). Sau khi hoàn thành việc xâm chiếm, thực dân phương Tây tiến hành thiết lập nền thống trị ở Đông Nam Á dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhằm chia rẽ, làm suy yếu sức mạnh dân tộc của các nước Đông Nam Á thực dân phương Tây sử dụng chính sách “chia để trị”. Chính quyền thực dân thực hiện chính sách bóc lột, khai thác các thuộc địa, thực hiện biến các nước trong khu vực thành nơi cung cấp nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ hàng hoá, phục vụ lợi ích cho chính quốc. Đối với nền văn hoá – xã hội, chúng tìm mọi cách kìm hãm người dân ở các nước thuộc địa trong tình trạng lạc hậu, nghèo đói. Thực hiện hành động làm xói mòn giá trị truyền thống của các quốc gia Đông Nam Á.
(*) Tham khảo: Quá trình thực dân Pháp xâm lược và thiết lập nền thống trị ở Việt Nam
- Từ giữa thế kỉ XIX, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Pháp phát triển mạnh. Nhu cầu về thị trường, nguyên liệu và nhân lực khiến quốc gia này đẩy mạnh xâm chiếm các nước phương Đông. Lợi dụng các mối quan hệ đã có từ trước, đồng thời, lấy cớ bảo vệ đạo Thiên Chúa giáo, ngày 1/9/1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam.
- Do thiếu đường lối chỉ đạo đúng đắn và quyết tâm kháng chiến của triều đình nhà Nguyễn, cuối cùng Việt Nam đã rơi vào tay thực dân Pháp. Hiệp ước Patơnốt (6/6/1884) là hiệp ước cuối cùng, đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của triều đình nhà Nguyễn trước thế lực xâm lăng, kết thúc giai đoạn tồn tại của Nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập.
- Trái ngược với thái độ của triều đình Huế, ngay từ đầu nhân dân Việt Nam đã đứng lên chiến đấu chống Pháp. Cuộc chiến tranh nhân dân bền bỉ, dẻo dai, đều khắp, với tinh thần dũng cảm vô song... đã khiến thực dân Pháp phải chịu nhiều tổn thất, phải mất hơn 26 năm mới có thể hoàn thành cuộc chiến tranh xâm lược và thực dân Pháp còn phải mất thêm 11 năm nữa để tiến hành cuộc bình định quân sự mới tạm thời thiết lập được nền thống trị trên toàn cõi Việt Nam.
- Từ năm 1897, sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa cuối cùng trong phong trào Cần vương và tiến hành giảng hoà với Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế, thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa quy mô, có hệ thống trên toàn cõi Đông Dương.
- Dưới tác động từ cuộc khai thác này, Việt Nam dần dần trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến và bị biến thành nơi cung cấp sức người, sức của rẻ mạt cho Pháp. Để đảm bảo lợi nhuận tối đa, thực dân Pháp đặt thêm nhiều thứ thuế mới, kìm hãm sự phát triển của Việt Nam, cột chặt nền kinh tế Việt Nam vào kinh tế chính quốc.
- Tuy nhiên, công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp cũng làm nảy sinh những nhân tố mới, ngoài ý muốn của chúng. Vào đầu thế kỉ XX, ở Việt Nam đã xuất hiện những thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa, dù còn non yếu: thành thị mọc lên; một số cơ sở công nghiệp ra đời. Cơ cấu xã hội biến động, một số tầng lớp mới xuất hiện; một số yếu tố tích cực, tiến bộ của văn minh phương Tây cũng từng bước du nhập vào Việt Nam.
Quốc tế thứ hai.
- Hoàn cảnh ra đời:
+ Chủ nghĩa tư bản phát triển ở giai đoạn cao, giai cấp tư sản tăng cường bốc lột nhân dân lao động.
+ Chính sách chạy đua vũ trang chuẩn bị phân chia lại thế giới dẫn đến đời sống nhân dân cực khổ.
+ Nhiều Đảng và tổ chức công nhân tiến bộ ra đời
- Ngày 14-7-1889 Quốc tế thứ 2 thành lập ở Pa-ri.
- Hoạt động Quốc tế thứ 2:
+ Thông qua các Đại hội và nghị quyết: sự cần thiết thành lập chính Đảng của giai cấp vô sản, đề cao đấu tranh chính trị.
+ Hạn chế ảnh hưởng các trào lưu cơ hội chủ nghĩa vô chính phủ.
+ Đoàn kết công nhân các nước thúc đẩy thành lập chính đảng vô sản ở nhiều nước.
- Diễn ra cuộc đấu tranh giữa khuynh hướng cách mạng và khuynh hướng cơ hội.
- Do thiếu nhất trí về đường lối chia rẽ về tổ chức, các Đảng trong Quốc tế 2 xa dần đường lối đấu tranh cách mạng, thỏa hiệp với giai cấp tư sản Quốc tế 2 tan rã.
Tham khảo:
Lòng nhân ái là một trong những phẩm chất đáng quý của con người. Lòng nhân ái là lòng yêu thương, là sống nhân hậu, bác ái…đây là vẻ đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam. Ý nghĩa của lòng nhân ái thật bao la. Lòng nhân ái giúp con người biết quan tâm, yêu thương, giúp đỡ những người xung quanh, biết rung động, biết đồng cảm sẻ chia trước những hoàn cảnh bất hạnh đáng thương. Khi miền Trung oằn mình trong lũ dữ, nhân dân cả nước quyên góp tiền của cùng miền trung khắc phục hậu quả. Trong mùa dịch covid-19, nhiều cá nhân tập thể đã chia sẻ vật chất đến những người có hoàn cảnh khó khăn; chính phủ Việt Nam giang tay đón đồng bào từ vùng dịch trở về, tạo điều kiện nơi ăn chốn ở cho công dân mình. Tất cả đều là minh chứng đẹp đẽ cho lòng nhân, đức hạnh, bác ái. Sống nhân ái, yêu thương còn tạo ra lực hấp dẫn kéo con người xích lại gần nhau, tạo thành khối thống nhất chống lại cái ác, sự ích kỷ, hận thù. Lòng nhân ái cũng là yếu tố cốt lõi để tạo nên một cuộc sống hạnh phúc, là nguồn năng lượng tạo ra xã hội văn minh, hiện đại. Người có lòng nhân ái sẽ được mọi người xung quanh yêu mến, quý trọng, biết ơn. Ngược lại sống ích kỉ chỉ lo nghĩ cho bản thân mình, dửng dưng trước những khổ đau, bất hạnh của người khác chỉ khiến cho bản thân trở nên tầm thường nhỏ bé. Bởi vậy, mỗi con người hãy là một tấm gương nhân ái để xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Trong đời sống hôm nay, người ta nói nhiều về thành công, tốc độ và cạnh tranh, nhưng lại ít khi dừng lại để hỏi: điều gì khiến con người ở lại bên nhau? Không phải tiền bạc hay danh vọng, mà chính là lòng nhân ái và sự tử tế – những điều tưởng nhỏ bé nhưng đủ sức giữ cho cuộc sống không trở nên lạnh lẽo.
Nhân ái là khả năng cảm nhận nỗi đau của người khác như của chính mình. Tử tế là cách ta lựa chọn hành động từ cảm nhận ấy. Một ánh mắt quan tâm, một lời nói chừng mực, hay một hành động giúp đỡ đúng lúc – tất cả đều là biểu hiện của tử tế. Không cần những việc lớn lao, đôi khi chỉ cần không quay lưng trước khó khăn của người khác, con người đã góp phần làm cho thế giới này dễ thở hơn.
Có những lúc, ta bắt gặp một người xa lạ sẵn sàng dừng xe giúp người gặp nạn, hay một học sinh âm thầm chia sẻ bài vở cho bạn yếu hơn. Những khoảnh khắc ấy không ồn ào, nhưng lại khiến ta tin rằng xã hội này vẫn còn ấm. Ngược lại, sự thờ ơ – thứ đang len lỏi trong nhiều góc đời sống – lại khiến khoảng cách giữa người với người ngày càng xa. Khi ta quen với việc “không phải chuyện của mình”, ta cũng vô tình đánh mất một phần nhân tính. Nhưng tử tế không phải là dễ dãi. Giúp đỡ không có nghĩa là bỏ qua đúng sai. Một người sống tử tế cần đủ tỉnh táo để không tiếp tay cho cái xấu, và đủ bản lĩnh để giữ vững nguyên tắc của mình. Tử tế, vì thế, không yếu đuối mà là một lựa chọn có ý thức.
Không ai có thể thay đổi cả xã hội, nhưng mỗi người đều có thể bắt đầu từ những điều rất nhỏ: nói một lời dễ nghe hơn, kiên nhẫn hơn một chút, sẵn sàng giúp đỡ khi có thể. Khi những điều nhỏ bé ấy được lặp lại đủ nhiều, chúng sẽ tạo thành một thói quen, rồi dần trở thành văn hóa.
Có thể thế giới này sẽ không hoàn hảo hơn chỉ vì một người sống tử tế. Nhưng chắc chắn, nó sẽ tệ đi nếu thiếu đi những con người như vậy. Và biết đâu, chính từ những điều giản dị ấy, ta lại tìm thấy ý nghĩa thật sự của việc sống.
Lần sau em chú ý để đúng môn học để nhận được sự giúp đỡ tốt nhất nhé
VD:Lòng nhân ái và sự tử tế là những phẩm chất tốt đẹp luôn cần có trong cuộc sống của con người. Nếu tri thức giúp con người phát triển về nhận thức thì lòng nhân ái và sự tử tế giúp xã hội trở nên ấm áp, văn minh hơn. Trong bất cứ thời đại nào, đây cũng là những giá trị quan trọng góp phần gắn kết con người với con người.
Lòng nhân ái là tình yêu thương, sự cảm thông, biết quan tâm và chia sẻ với người khác, đặc biệt là những người gặp khó khăn, bất hạnh. Người có lòng nhân ái luôn biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để thấu hiểu và giúp đỡ. Còn sự tử tế là cách ứng xử văn minh, chân thành, biết tôn trọng người khác từ những điều nhỏ nhất trong cuộc sống hằng ngày. Tử tế có thể thể hiện qua lời nói lịch sự, hành động giúp đỡ, thái độ bao dung hay cách cư xử có trách nhiệm với cộng đồng.
Trong đời sống, lòng nhân ái và sự tử tế có vai trò vô cùng to lớn. Trước hết, nó giúp con người xích lại gần nhau hơn. Một lời động viên đúng lúc, một cái nắm tay chia sẻ hay một hành động giúp đỡ chân thành có thể tiếp thêm sức mạnh cho người đang gặp khó khăn. Khi con người biết yêu thương và cư xử tử tế, các mối quan hệ sẽ trở nên tốt đẹp, xã hội cũng bớt đi sự lạnh lùng, ích kỉ. Bên cạnh đó, lòng nhân ái còn lan tỏa những giá trị tích cực. Một việc tốt nhỏ hôm nay có thể truyền cảm hứng để nhiều người cùng làm điều tốt ngày mai. Chính nhờ vậy mà cộng đồng ngày càng đoàn kết, văn minh hơn.
Thực tế cuộc sống đã chứng minh điều đó. Trong những đợt thiên tai, dịch bệnh, rất nhiều người sẵn sàng quyên góp tiền của, lương thực, giúp đỡ đồng bào vùng khó khăn. Có những bạn trẻ tham gia hiến máu tình nguyện, hỗ trợ người già qua đường, nhặt được của rơi trả lại người mất. Những hành động tưởng như nhỏ bé ấy lại chứa đựng ý nghĩa lớn lao, thể hiện rõ lòng nhân ái và sự tử tế trong cuộc sống.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn không ít người sống thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của người khác; chỉ biết lợi ích cá nhân mà thiếu trách nhiệm với cộng đồng. Có người sẵn sàng nói lời cay nghiệt, xúc phạm người khác trên mạng xã hội hoặc ngoài đời thực. Những biểu hiện ấy làm tổn thương con người và khiến xã hội trở nên lạnh nhạt hơn. Vì thế, mỗi người cần nhìn lại bản thân để sống tốt hơn mỗi ngày.
Để nuôi dưỡng lòng nhân ái và sự tử tế, chúng ta cần bắt đầu từ những việc làm đơn giản: biết lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy cô; biết giúp đỡ bạn bè; biết nói lời cảm ơn, xin lỗi đúng lúc; biết chia sẻ với những người có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, cần rèn luyện lối sống trung thực, tôn trọng người khác và có trách nhiệm với cộng đồng. Khi mỗi người gieo một hạt giống yêu thương, xã hội sẽ nở ra những bông hoa tốt đẹp.
Lòng nhân ái và sự tử tế chính là vẻ đẹp của tâm hồn con người. Cuộc sống sẽ ý nghĩa hơn khi con người biết yêu thương và đối xử tốt với nhau. Vì vậy, mỗi chúng ta hãy sống nhân ái, tử tế từ hôm nay để góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp, tràn đầy tình người.