Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Trong bài thơ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” của Hồ Chí Minh, âm điệu nhẹ nhàng, trong trẻo của thiên nhiên được thể hiện thật tinh tế qua cách sử dụng điệp thanh “tiếng suối”, “trong”, “xa”. Những âm thanh ngân dài của vần “a” và thanh bằng đã tạo nên cảm giác êm dịu, thanh thoát, gợi lên không gian yên bình giữa núi rừng Việt Bắc. Qua điệp thanh ấy, ta như cảm nhận được tâm hồn thi nhân hòa quyện với thiên nhiên, ung dung và an nhiên giữa cuộc sống gian lao. Từ đó, em càng thêm khâm phục Bác – một con người dù trong hoàn cảnh nào vẫn luôn giữ được tinh thần lạc quan, yêu đời và yêu thiên nhiên tha thiết.
Tham Khảo:
MÔI TRƯỜNG CỦA EM
khi em lớn lên đã thấy cánh đồng
Màu xanh lúa mát vào độ đông sang
Em luôn đi con đường qua đồng ruộng
Sẽ thẳng vào mái trường mỗi ban mai
Khi em lớn lên đã có những con đường
Xe chạy nhanh vì bên cạnh nhiều rác
Bụi đường bay trắng ngác nhà ai
Nắng ko thể xua nước thừa ven sông
Khi em nghĩ em mong nơi sinh sống
Hương xanh sẽ bay trong lành khắp nẻo
Nhưng không thể ,người nhé phải đấu tranh
Em yêu như thế, đồng ruộng mênh mông.
Trong bài thơ chữ mẹ đặt hàng đầu
Con có mẹ đời con hết buồn rầu
Mẹ là nắng là niềm tin con có
Suốt đời này con không ngại gian khó
Vì mẹ hiền luôn sát cánh cùng con
Tham khảo!
Mưa đúng là đã thôi mưa rồi nhỉ
Bầu trời cao không một tí mây đen
Chỉ cuộc đời là thấy lắm bon chen
Đất cũng chật mà lòng người cũng chật
Chỉ có nắng với mưa là chân thật
Thích là rơi, không thích lại thu vào
Mặc cho người thấy thiếu cứ kêu gào
Mưa nắng trốn chỉ ra khi nào thích
Có những lúc nắng mưa đều tinh nghịch
Chạy đuổi nhau cùng lúc ở trên cao
Thế là người dưới đất phải nháo nhào
Vừa nắng đấy, cái ào mưa tuôn xuống
Người đi đường tha hồ mà luống cuống
Vừa ướt xong, lại nắng xuống khô rồi
Cứ thế này chắc ốm hết trời ơi
Nhưng như vậy thì cuộc đời mới đẹp.
Đối với thể thơ tám chữ, người ta có thể gieo vần theo nhiều cách (vần chân, vần lưng) phổ biến nhất vẫn là vần chân (những chữ in đậm là vị trí gieo vần); được gieo liên tiếp, gián cách hoặc kết hợp cả hai
Ví dụ văn bản: “Qua Đèo Ngang” – Bà Huyện Thanh Quan Nguyên văn: Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà, Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà. Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia. Dừng chân đứng lại: trời, non, nước, Một mảnh tình riêng, ta với ta. Phân tích các phương diện: Bố cục (cách chia đoạn): Hai câu đầu: Miêu tả cảnh thiên nhiên ở Đèo Ngang. Hai câu tiếp: Hình ảnh con người xuất hiện, thưa thớt, hiu quạnh. Hai câu 5–6: Tâm trạng gợi nhớ nước, thương nhà. Hai câu cuối: Cô đơn, nỗi buồn riêng dồn nén. → Bố cục theo trình tự: Cảnh → Người → Tình cảm → Tâm trạng. Kết cấu: Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, kết cấu chặt chẽ. Có đối ở cặp câu 3–4 (lom khom/lác đác), 5–6 (nhớ nước/ thương nhà). Ngôn ngữ: Ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, trang trọng, có tính ước lệ. Từ láy giàu gợi hình: lom khom, lác đác. Biện pháp tu từ: Điệp từ: “chen... chen”, “nhớ nước/ thương nhà” → nhấn mạnh cảm xúc. Đối: vừa tạo nhạc điệu, vừa làm nổi bật cảnh thưa vắng, tâm trạng buồn. Nhân hoá: “con quốc quốc”, “cái gia gia” → gắn tiếng chim với nỗi lòng. Vần: Vần bằng, gieo ở chữ cuối câu 1, 2, 4, 6, 8: tà – hoa – nhà – gia – ta. Nhịp: Thường là nhịp 4/3 hoặc 2/2/3, tạo sự khoan thai, trầm buồn. Ví dụ: Bước tới Đèo Ngang // bóng xế tà (4/3).
1.
a. Câu thơ sử dụng phép nói quá để nói về nỗi li biệt, xa cách. Người chỉ mới vừa ở đó thôi mà đã thấy xa cách vạn quan san.
b. Câu thơ sử dụng phép điệp từ "còn" kết hợp với phép liệt kê "trời", "non", "nước", "cụ bán rượu" => khẳng định sự tồn tại của tình cảm, sự "say sưa" của nhân vật trữ tình dành cho cô gái cũng bền vững và trường tồn mãi như trời đất.
2. Câu thơ sử dụng chủ yếu phép so sánh.
- Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã: sử dụng phép so sánh, so sánh chiếc thuyền lao ra biển mà lướt rất nhẹ, rất êm. Chiếc thuyền như con tuấn mã, ý nói chiếc thuyền đánh cá vừa đẹp, vừa khỏe, phi nước đại, tiến ra sông dài biển rộng.
- Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng: So sánh "cánh buồm" - cụ thể hữu hình với "mảnh hồn làng" - thứ vô hình, trừu tượng. Điều đó cho thấy con thuyền tiến ra biển lớn không chỉ thực hiện nhiệm vụ đánh cá mà còn mang trong nó những ước vọng và tình cảm thân thương của quê hương. Phép so sánh khiến con thuyền như trở thành một sinh thể có hồn, đẹp đẽ, kì vĩ, sống động.
- Phép nhân hóa qua động từ "rướn" trong câu "Rướn thân trắng bao la thâu góp gió" cho thấy tư thế chủ động, mạnh mẽ của con thuyền khi ra khơi. Nhờ sự lạc quan, mạnh mẽ, rắn rỏi vươn tới của con thuyền mà hứa hẹn mang về những mẻ cá bội thu.
3.
a. Câu thơ sử dụng câu hỏi tu từ "có tài mà cậy chi tài" kết hợp với phép chơi chữ "chữ tài liền với chữ tai một vần" nhằm đưa ra một triết lí, một quy luật của cuộc sống: người tài hoa thường bạc mệnh, thuyết tài mệnh tương đố.
b. Câu thơ sử dụng phép so sánh nhằm nhấn mạnh sự non nớt, trong sáng, ngây thơ của trẻ em => cần bảo vệ và trân trọng sự phát triển của trẻ em.
c. Câu thơ sử dụng phép nhân hóa qua từ "ơi" => trò chuyện với trâu như với người. Thể hiện sự gắn bó của người nông dân với đồng ruộng, với con trâu, cái cày. Đồng thời cũng gửi gắm ước vọng của người nông dân về cuộc sống lao động cần cù chăm chỉ, có thể thu về thành quả xứng đáng.