K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

11 tháng 2 2020

Mở bài:

Chúng ta giới thiệu khái quát về loại bánh chưng trong ngày Tết

Thân bài:

– Nguồn gốc của bánh chưng

– Quan niệm về loại bánh chưng

– Quá trình chuẩn bị nguyên liệu: Lá dong, lá chuối, gạo nếp thơm ngon, thịt mỡ, đậu xanh làm nhân bánh.

– Quá trình chế biến: Gói bánh, luộc bánh, ép và bảo quản sau khi bánh chín.

– Sử dụng bánh

– Chọn bánh đẹp để đặt cúng trên bàn thờ tổ tiên

– Làm quà biếu cho người thân

– Dùng để đãi khách

– Để dùng trong gia định

– Vị trí của bánh trong ngày tết

Kết bài:

Ý nghĩa của bánh chưng trong văn hóa và cảm nghĩ của bạn

26 tháng 12 2018

Trong lịch sử văn học của Việt Nam, Phạm Ngũ Lão chỉ để lại vỏn vẹn có hai bài thơ nhưng tên tuổi của ông vẫn luôn được sánh ngang những tác giả như danh tiếng nhất của văn học thời Trần – dòng văn học yêu nước. Bài thơ Tỏ lòng là một minh chứng tiêu biểu cho quy luật sống còn của văn chương nghệ thuật xưa nay: “quý hồ tinh bất quý hồ đa” (quý tinh túy, không có nhiều).

Hai câu thơ đầu đã thể hiện suất sắc vẻ đẹp của con người với tầm vóc, tư thế, hành động lớn lao và kỳ vĩ:

“Hoành sóc giang sơn kháp kỷ thu

Tam quân ti hổ khí thôn ngưu”

Dịch:

“Múa giáo non sông trải mấy thu,

Ba quân khí mạnh nút trôi trâu.”

Hai chữ “múa giáo” trong lời dịch chưa thực sự thể hiện được xuất sắc hai từ “hoành sóc” của câu thơ chữ hán. Câu thơ nguyên tác đã dựng lên hình ảnh một con người cầm ngang ngọn giáo mà từ đó trấn giữ đất nước. Cây trường giáo ấy dường như có thể đo được chiều dài của non sông. Con người suất hiện với một tư thế vô cùng hiên ngang, mang tầm vóc lớn lao, sánh ngang với vũ trụ. Con người kỳ vĩ ấy thậm chí còn như áp cả không gian bao la. Hành động phi thường giữa khoảng trời đất: “khí mạnh nuốt trôi trâu”, không hề mệt mỏi: “trải mấy thu” tính cho hình ảnh của con người vốn đã kỳ vĩ này lại càng kỳ vĩ hơn nữa. Không gian được mở ra theo chiều rộng của núi sông, mở lên theo chiều cao đến tận ngưu sao ngưu thăm thẳm.

Trong câu thơ đầu, tác giả đã sử dụng một hình ảnh vô cùng quen thuộc của văn chương cổ đại nhưng đã chắt lọc và kết tinh thành những áng thơ tuyệt cú. Sau này, trong bản dịch của Chinh phụ ngâm, ta thấy sự xuất hiện hình ảnh người chinh phụ: “Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo”. Nhưng, so với hình ảnh của người tráng sĩ cầm ngọn giáo trấn giữ non sông, đất nước thì người chinh phụ lại không có được cái vẻ đẹp của vũ trụ, cái hào khí ôm trùm cả đất trời ấy.

Hình ảnh ba quân là hình ảnh nói về quân đội nhà trần nhưng cũng là hình ảnh tượng trưng cho sức mạnh mạnh mẽ của dân tộc. Thủ pháp nghệ thuật so sánh vừa cụ thể hóa sức mạnh của ba quân vừa hướng tới sự khái quát hóa sức mạnh tinh thần mang hào khí Đông A của dân tộc ta. Câu thơ khiến cho người đọc ấn tượng mạnh với sự kết hợp giữa hình ảnh khách quan và cảm nhận chủ quan giữa hiện thực và lãng mạn đến bất ngờ.

Hai câu thơ sau lại là dùng để thể hiện nỗi lòng của người tráng sĩ. Nỗi lòng đó là cái chí, cái tâm của người anh hùng:

“ Nam nhi vị liệu công danh trái,

Tu thính nhân gian Thuyết vũ hầu.”

Ở đây, chí làm trai mang tinh thần, tư tưởng tích cực của nho giáo là lập công, lập danh, lập nghiệp. Quan niệm lập công danh đã trở thành một quan niệm lý tưởng để đánh giá nam nhi thời phong kiến xưa. Công danh được coi là món nợ đời mà kẻ làm trai phải trả. Trả xong nợ công danh tức là có nghĩa đã hoàn thành nhiệm vụ đối với đời, với dân, với nước. Chí làm trai thời bây giờ khiến cho con người có thể từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỷ để thay vào đó là sự hy sinh, chiến đấu cho sự nghiệp lớn lao, cứu nước và giữ nước.

Điều đáng chú ý hơn nữa đó là bên cạnh cái chí của người anh hùng thì cái tâm còn sáng tỏ hơn nữa. Cái tâm ấy thể hiện qua nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão. Ông thẹn khi mình chưa có tài mưu lược lớn như Vũ hầu Gia Cát Lượng thời Hán để giúp cho Hán Vũ Đế cứu nước, cứu dân. Một cái nỗi thẹn nhưng không khiến cho người thẹn bị hạ thấp danh phẩm mà nó lại khiến cho ta càng trân trọng yêu thương phẩm giả tuyệt vời của thi nhân. Nỗi thẹn đặc biệt ấy vừa có giá trị nhân cách vừa cao cả, lớn lao.

Tỏ lòng vừa là nỗi lòng riêng của nhà thơ Phạm Ngũ Lão vừa là xu thế chung tất yếu của thời đại: sức mạnh, tinh thần quyết chiến, quyết thắng để giải cứu dân tộc, giải cứu nhân dân chất kẻ thù xâm lược tàn ác.

Với bút pháp nghệ thuật hoành tráng, bài thơ đã thể hiện được suất sắc hào khí của thời đại Đông A – một trong những thời đại hào hùng nhất, vẻ vang nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam.

26 tháng 12 2018

Phạm Ngũ Lão là một danh tướng rất giỏi của thời nhà Trần, tuy nhiên ông không những là một vị tướng giỏi giết hàng trăm kẻ giặc bảo vệ cho đất nước, giúp cho vua Trần thắng trận trở về mà ông còn là một nhà thơ nữa. Tuy là tướng võ nhưng Phạm Ngũ Lão lại rất thích đọc sách ngâm thơ chính vì thế mà ông có làm thơ tuy ít nhưng chất lượng. Tiêu biểu nhất đó chính là bài thơ thuật hoài của ông.

Thuật hoài là nỗi lòng của nhà thơ về những chí khí của một người anh hùng sống trên đời, không những thế nó còn là những lời để cho nhà thơ thể hiện sự yêu mến và cho người đọc thấy được những khí phách của quân đội nhà Trần. Chúng ta như cảm thấy một anh hùng lớn ở đây, chính ông đã mang đến một bài thơ hay cho chúng ta. Đồng thời qua bài thơ đó ta thấy Phạm Ngũ Lão là một bậc danh tướng trung quân ái quốc có lí tưởng lớn lao.

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt cho nên chúng ta đi phân tích hai câu thơ đầu trước:

“Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu. ”

Hai câu thơ như vẽ lên những hình ảnh của những người anh hùng đầu đội trời chân đạp đất không những hiên ngang mà còn bất khuất kiên cường. Trước tiên thì đó là vẻ đẹp của người anh hùng với cây giáo trong tay mình. Dường như Phạm Ngũ lão đang thể hiện chính quan niệm anh hùng của mình qua hình ảnh cây giáo ấy. Ở đây tác giả như nói về một người con trai, một vị danh tướng đã sống trên đời thì phải biết cầm ngọn giáo trên tay mà đánh giặc bảo vệ đất nước muôn đời bình yên thịnh vượng. Hai chữ “hoành sóc” như thể hiện sự hiên ngang ấy, thế nhưng ở bản dịch lại làm giảm đi ý nghĩa của hai chữ hoành sóc ấy. Bản dịch là “múa giáo”, thử cảm nhận mà xem so với hai chữ hoành sóc thì múa giáo thật sự thể hiện sự yếu ớt chứ không hề dũng mạnh một chút nào.

(Múa giáo non sông trải mấy thu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu. )

Có thể thấy được sự thể hiện rất rõ của hai chữ “hoành sóc”. Không những thế mà hình ảnh người anh hùng hiên ngang ấy lại còn cầm ngọn giáo ấy trong tay trải qua biết bao nhiêu thời gian để đánh giặc. Ngọn giáo ấy được đo bằng không gian non sông đất nước và chiều dài của lịch sử. Hình như giáo cũng có không gian sinh thành và có tuổi đời như chúng ta vậy.

Không chỉ thể hiện vẻ đẹp cá nhân mà chúng ta còn thấy được những vẻ đẹp của quân đội nhà Trần qua câu thơ thứ hai:

“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

ở đây có hai cách hiểu một là khí mạnh của ba quân có thể nuốt trôi một con trâu lớn. Khí phách ấy giống như một con hổ lớn có thể nuốt hết tất cả những tên giặc kia nếu chúng không chịu rút quân về nước. Binh tốt không những phải giỏi mà còn phải có một tinh thần tốt thì mới chiến thắng được.

Cách hiểu thứ hai là khí chí của quân đội nhà trần khiến át đi cả sao Ngưu Vương. Dù hiểu theo cách nào đi nữa thì chúng ta đều biết được khí phách của quân đội nhà Trân là rất lớn.

Sang hai câu thơ tiếp theo nhà thơ như thể hiện lên những tâm sự riêng tư của mình:

“Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu. ”
(Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu)

Nói về công danh Nguyễn Công Trứ thường có câu:

“Đã có tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông”

Chính vì thế qua đây ta thấy quan niệm trên không chỉ của riêng Phạm Ngũ Lão mà nó chỉ chung cho tất cả những người anh hùng, trượng phu lúc bấy giờ. Đối với nhà thơ mà nói những gì ông làm cho đất nước chưa thấm thoát gì vì thế cho nên công danh nam tử còn đang vương nợ. Đó là cái nợ cho đất nước, là cái nợ với vua. Thế nên khi nghe thuyết kể về Vũ Hầu một người quân thần tài giỏi thì tác giả hãy còn e thẹn.

Như vậy qua đây ta thấy được những tâm sự cùng những trăn trở về công danh của người tướng danh tài ba Phạm Ngũ Lão. Ông đã xây dựng được một hình ảnh những con người nhà trần khỏe mạnh hết lòng vì tổ quốc vì nhân dân. Đồng thời tác phẩm thể hiện rõ hào khí Đông A.

I. MỞ ĐẦUVăn học dân gian Việt Nam không chỉ gồm những truyện cổ tích, truyền thuyết, mà còn có một thể loại đặc sắc là truyện cười. Truyện cười sử dụng tiếng cười để phản ánh hiện thực xã hội, châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu trong đời sống. Một trong những truyện cười tiêu biểu là “Lợn cưới, áo mới” – một tác phẩm ngắn nhưng sâu sắc, phản ánh rõ nét...
Đọc tiếp

I. MỞ ĐẦU


Văn học dân gian Việt Nam không chỉ gồm những truyện cổ tích, truyền thuyết, mà còn có một thể loại đặc sắc là truyện cười. Truyện cười sử dụng tiếng cười để phản ánh hiện thực xã hội, châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu trong đời sống. Một trong những truyện cười tiêu biểu là “Lợn cưới, áo mới” – một tác phẩm ngắn nhưng sâu sắc, phản ánh rõ nét thói khoe khoang hình thức của một bộ phận người dân xưa.


II. NỘI DUNG CHÍNH

1. Giới thiệu sơ lược về truyện “Lợn cưới, áo mới”


Thể loại: Truyện cười dân gian


Nhân vật: Hai người đàn ông – một người có lợn cưới, một người có áo mới


Tóm tắt nội dung:

Một anh nông dân đang đi tìm con lợn cưới bị mất, liền hỏi một người qua đường:

– Bác có thấy con lợn cưới nhà tôi chạy qua đây không?

Người kia đáp:

– Tôi đứng đây từ sáng tới giờ mà **chưa thấy con lợn nào chạy qua, chỉ thấy một người mặc cái áo mới đi lại mãi thôi.

Cả hai người đều dùng cái cớ để khoe của: một người khoe có lợn cưới, một người khoe có áo mới.


2. Phân tích nội dung và ý nghĩa

a. Tiếng cười trào phúng nhẹ nhàng mà sâu sắc


Câu chuyện không có tình huống gay cấn, cũng không có nhân vật xấu độc, nhưng tạo nên tiếng cười châm biếm thông minh.


Cả hai nhân vật đều cố tình đưa ra thông tin không cần thiết chỉ để khoe của.


Người hỏi lợn: lẽ ra chỉ cần hỏi “Bác có thấy con lợn nào chạy qua không?” nhưng lại nói rõ “lợn cưới nhà tôi”.


Người kia cũng chẳng cần nói gì về áo, nhưng lại tranh thủ nói “chỉ thấy người mặc áo mới đi lại mãi thôi”.


b. Phê phán thói khoe khoang hình thức, giả tạo


Câu chuyện thể hiện một thói xấu phổ biến trong xã hội xưa và nay: thích khoe của, khoe mẽ dù rất vụn vặt.


Người nông dân khoe có lợn cưới – tức là gia đình đang làm đám cưới, có của ăn của để.


Người còn lại khoe mình có áo mới – một thứ xa xỉ với người nông dân xưa.


Bản chất khoe khoang bị lật tẩy một cách khéo léo qua cách nói bóng gió, tạo nên tiếng cười và bài học nhẹ nhàng.


c. Giá trị văn hóa – xã hội


Truyện cho thấy cái nhìn châm biếm nhưng rất tinh tế của nhân dân xưa.


Là một kiểu truyện cười “trào phúng nhẹ” – không quá gay gắt, nhưng để lại ấn tượng sâu.


Đồng thời thể hiện tư duy dân gian thông minh, sắc sảo, biết dùng ngôn ngữ để phản ánh bản chất sự việc.


III. KẾT LUẬN

“Lợn cưới, áo mới” là một truyện cười ngắn gọn, hài hước nhưng sâu sắc, phản ánh rõ nét thói khoe khoang hình thức – một thói xấu tồn tại cả trong quá khứ và hiện tại. Tác phẩm thể hiện tiếng cười trào phúng nhẹ nhàng, tinh tế, đồng thời cho thấy tài quan sát sắc bén và nghệ thuật kể chuyện sinh động của nhân dân lao động xưa. Đây là một minh chứng tiêu biểu cho giá trị giáo dục và phê phán nhẹ nhàng trong văn học dân gian Việt Nam.

0
18 tháng 3 2019

Sách là kho tàng tri thức khổng lồ của nhân loại. Từ xưa, cha ông ta đã lưu lại những hiểu biết phong phú về mọi mặt đời sống xã hội và muôn hình vạn trạng trạng thái vận động của tự nhiên. Và như vậy, sách cung cấp cho ta những tri thức về hầu hết các lĩnh vực của đời sống. Nhờ đó, khi tiếp xúc với sách, con người có cơ hội tiếp xúc với toàn bộ kho tàng văn hoá của văn minh nhân loại. Đọc sách, ta biết về những gì đã xảy ra trong lịch sử loài người. Có xuất phát điểm từ loài vượn thông minh, con người dần gây dựng được những nền văn minh rực rỡ: văn minh Lưỡng Hà, văn minh Ai Cập, văn minh Hi Lạp – La Mã,… và từ đó trải qua bao hình thái kinh tế xã hội phức tạp mới có xã hội văn minh, hiện đại như ngày nay. Đọc sách, ta còn biết về những phát minh có ảnh hưởng quan trọng đến sự tiến bộ xã hội: đèn điện, máy bay, điện thoại,… Đặc biệt, nhờ có sách mà ngày nay, ta ngồi trong nhà mà có thể biết về mọi nơi trên thế giới, giống với đi du lịch vậy! Đọc sách quả là công việc vô cùng bổ ích vì nó giúp ta hiểu biết thêm về đời sống.

yeu

18 tháng 3 2019

+Ai cũng biết sách chứa đựng rất nhiều kiến thức trong cuộc sống, giúp chúng ta tư duy, nhận thức sâu sắc hơn, trưởng thành hơn và tích lũy được vốn từ ngữ phong phú. Vậy thì vì sao chúng ta không thể không duy trì một thói quen đọc sách thường ngày hay mỗi khi có thể như một sự thưởng thức cuộc sống, đó chẳng khác gì một sự trải nghiệm phong phú đủ mọi cung bậc trên từng trang sách.

+Ý nghĩa của việc đọc sách đem lại sự thư giãn và cảm thấy vui, là nguồn gốc tuyệt vời của sự hưởng thụ, mọi nguồn cảm hứng, chỉ cho chúng ta mọi con đường đi với những kiến thức tuyệt vời, nó giúp ta trở thành một người thành công trong cuộc sống này.

+Khi đọc sách, mọi người sẽ không chỉ cảm thấy không còn đơn độc mà họ còn cảm thấy vô cùng tĩnh tâm. Nó có thể cung cấp cho chúng ta những ý nghĩ cao thượng, những ý tưởng để làm việc trong nhiều lĩnh vực và hiểu biết sâu rộng. Những cuốn sách thú vị và bổ ích giống như người bạn tốt, nhất là với những người say mê đọc nó.

22 tháng 10 2019

a. Mở bài:

- Lí do của chuyến đi chơi xa và nơi sẽ đến.

- Chuẩn bị cho chuyến đi và lên đường.

b. Thân bài

1. Cảnh dọc đường đi.

– Phong cảnh, những nét đặc biệt.

– Tâm trạng của em và thái độ mọi người trên xe.

2. Đến nơi.

– Hoạt động thứ nhất.

– Kể những hoạt động nổi bật, thú vị tiếp theo (chú ý: chọn kể nhiều dạng hoạt động khác nhau cho phong phú; nên sắp xếp thứ tự kể theo thời gian. Mỗi hoạt động kể trong một đoạn văn có kết hợp kể với miêu tả cảnh vật, hoạt động,…).

3. Kết thúc chuyến đi

– Chuẩn bị trở về.

– Cảnh vật, tâm trạng, hoạt động trên đường về.

Kết bài:

- Suy nghĩ về chuyến đi.

- Mong ước.

2 tháng 11 2017

Bài viết tham khảo

Sau những ngày học tập căng thẳng, nhóm bạn thân của chúng tôi quyết định có một buổi dã ngoại, rời xa thành phố để giải tỏa những căng thẳng đầu óc. Chúng tôi đã lựa chọn một địa điểm ngoại thành Hà Nội.

Không còn cảnh ồn ào, náo nhiệt phố phường hay những lúc bon chen tắc đường chật chội. Chúng tôi đi xe đạp, thong dong trên con đường đất đỏ. Hai bên đường có những rặng cây tỏa bóng che khuất ánh mặt trời, những tán lá xanh như đan quyện vào nhau che mát con đường. Phía xa xa là con suối nhỏ chảy từ trên vách núi xuống giống như một dải lụa đào mềm mại ai để quên bên rừng cây xanh thẳm.

Khi mặt trời đứng bóng, chúng tôi đã đến được địa điểm cắm trại. Mỗi người một tay, thoáng chốc căn lều nhỏ của chúng tôi đã được dựng. Những món ăn đơn giản chúng tôi chuẩn bị sẵn từ nhà được bày biện. Ai cũng hào hứng kể những câu chuyện, dự định sắp tới của mình. Thi thoảng là những câu chuyện cười, những tiếng châm chọc khiến chúng tôi cười liên tục.

Ăn uống xong, chúng tôi đi vòng ra con suối. Khi lại gần, tiếng nước chảy róc rách nghe thật vui tai. Thả đôi chân ngâm xuống dòng nước mát rượi, bao mệt mỏi và buồn phiền trong tôi như tan biến. Những chiếc là vàng chảy từ đầu nguồn như những con thuyền nhỏ trở đi bao ưu tư, bao ước mơ gửi gắm. Vang vọng quanh tôi là tiếng chim hót líu lo, như nói chuyện cùng nhau trong trưa hè nóng bức.

Đến buổi chiều chúng tôi ra cánh đồng cỏ cạnh đó, chụp những bức hình kỉ niệm. Cỏ xanh và mềm mại, những chú bò thong dong gặm cỏ bên triền đê. Tiếng trẻ con nô đùa gần đó, thả những cánh diều vút cao trong gió. Tiếng người lớn đi làm trở về, chia sẻ những câu chuyện sau một ngày lao động mệt nhọc. Những âm thanh gần gũi và bình dị về vùng quê đó đã để lại trong tôi những bồi hồi, xao xuyến.

Thời gian một ngày trôi qua thật nhanh, chúng tôi thu gọn đồ đạc và trở về nhà. Những buổi dã ngoại như vậy đã khiến tình bạn của chúng tôi thân thiết, gắn bó hơn và giúp chúng tôi có thêm năng lượng để tiếp tục cho những ngày học hành sắp tới.

Mở bài Giới thiệu về danh lam thắng cành bạn cần thuyết minh. Nêu cảm nhận chung về danh lam thắng cảnh đó Thân bài 1. Giới thiệu vị trí địa lí: Địa chỉ / nơi tọa lạc? Diện tích nơi đó? Rộng lớn hay nhỏ? Cảnh vật xung quanh ra sao? Có thể đến đó bằng phương tiện gì? Phương tiện du lịch: xe du lịch,… Phương tiện công cộng: xe máy, xe buýt,… 2. Nguồn gốc: (Nói...
Đọc tiếp

Mở bài

  • Giới thiệu về danh lam thắng cành bạn cần thuyết minh.
  • Nêu cảm nhận chung về danh lam thắng cảnh đó

Thân bài

1. Giới thiệu vị trí địa lí:

  • Địa chỉ / nơi tọa lạc?
  • Diện tích nơi đó? Rộng lớn hay nhỏ?
  • Cảnh vật xung quanh ra sao?
  • Có thể đến đó bằng phương tiện gì?
    • Phương tiện du lịch: xe du lịch,…
    • Phương tiện công cộng: xe máy, xe buýt,…

2. Nguồn gốc: (Nói rõ hơn là lịch sử hình thành)

  • Có từ khi nào?
  • Do ai khởi công (làm ra)?
  • Xây dựng trong bao lâu?

3. Cảnh bao quát đến chi tiết

a) Cảnh bao quát

  • Từ xa,…
  • Nổi bật nhất là…
  • Cảnh quan xung quanh…

b) Chi tiết:

  • Cách trang trí:
    • Mang đậm nét văn hóa dân tộc.
    • Mang theo nét hiện đại.
  • Cấu tạo.

4. Giá trị văn hóa, lịch sử:

  • Lưu giữ:
    • Tìm hiểu nhiều hơn về lịch sử, quá khứ của ông cha ta.
    • Tô điểm cho… ( TP HCM, Nha Trang, Việt Nam,…), thu hút khách du lịch.
    • Một trong các địa điểm du lịch nổi tiếng/ thú vị/ hấp dẫn/ thu hút khách du lịch.

Kết bài

  • Nêu cảm nghĩ về đối tượng và đại danh.
  • Tóm lại các nét đặc biệt từ bài viết đó
1
15 tháng 3 2020

.

15 tháng 3 2020

?

Vấn đề: Giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều1. Mở đầuTruyện Kiều là kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, tác phẩm đã vượt qua giới hạn thời gian để trở thành đỉnh cao văn học Việt Nam. Với hơn 3.200 câu thơ lục bát, Truyện Kiều không chỉ phản ánh xã hội phong kiến đầy bất công mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo, nhân văn sâu sắc của tác giả.2. Nội dunga. Nội dung...
Đọc tiếp

Vấn đề: Giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều

1. Mở đầu

Truyện Kiều là kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, tác phẩm đã vượt qua giới hạn thời gian để trở thành đỉnh cao văn học Việt Nam. Với hơn 3.200 câu thơ lục bát, Truyện Kiều không chỉ phản ánh xã hội phong kiến đầy bất công mà còn thể hiện tấm lòng nhân đạo, nhân văn sâu sắc của tác giả.

2. Nội dung

a. Nội dung chính
-Kể về cuộc đời 15 năm lưu lạc của nàng Thúy Kiều – một người con gái tài sắc vẹn toàn, nhưng vì chữ hiếu phải bán mình, rồi rơi vào bi kịch tình yêu và cuộc sống
-Tác phẩm thể hiện bi kịch của con người tài sắc trong xã hội phong kiến mục nát.

b. Giá trị hiện thực
-Tố cáo xã hội phong kiến bất công, tàn bạo chà đạp lên quyền sống, đặc biệt là với người phụ nữ.
-Phản ánh cuộc sống, số phận éo le của con người thời Nguyễn Du.

c. Giá trị nhân đạo
-Cảm thương sâu sắc với số phận con người, đặc biệt là phụ nữ.
-Đề cao phẩm chất, tài năng, khát vọng tình yêu, hạnh phúc chính đáng.
-Khẳng định ước mơ công lý, lẽ công bằng trong đời sống.

d. Giá trị nghệ thuật
-Nghệ thuật tả người đặc sắc (điển hình: Thúy Kiều – Thúy Vân).
-Nghệ thuật tự sự xen lẫn trữ tình, ngôn ngữ dân tộc giàu hình ảnh và nhạc điệu.
-Xây dựng nhân vật sống động, điển hình.
-Thể thơ lục bát đạt đến đỉnh cao, có giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ lớn.

3. Kết luận

Truyện Kiều là đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam, vừa giàu giá trị hiện thực, vừa chứa đựng tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm không chỉ để lại dấu ấn trong lịch sử văn học dân tộc mà còn khẳng định tài năng, tấm lòng và vị trí vĩ đại của Nguyễn Du trong nền văn học thế giới.

0
Vấn đề: Ý nghĩa và giá trị của truyện cổ tích Tấm Cám1. Mở đầuTrong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tấm Cám là tác phẩm nổi bật, quen thuộc với nhiều thế hệ. Câu chuyện phản ánh cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, đồng thời gửi gắm ước mơ công bằng, hạnh phúc của nhân dân lao động.2. Nội dunga. Tóm tắt truyệnTấm mồ côi cha mẹ, sống với dì ghẻ và em cùng cha khác mẹ là...
Đọc tiếp

Vấn đề: Ý nghĩa và giá trị của truyện cổ tích Tấm Cám

1. Mở đầu

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tấm Cám là tác phẩm nổi bật, quen thuộc với nhiều thế hệ. Câu chuyện phản ánh cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, đồng thời gửi gắm ước mơ công bằng, hạnh phúc của nhân dân lao động.

2. Nội dung

a. Tóm tắt truyện
Tấm mồ côi cha mẹ, sống với dì ghẻ và em cùng cha khác mẹ là Cám. Tấm hiền lành, chăm chỉ nhưng bị mẹ con Cám nhiều lần hãm hại. Nhờ sự giúp đỡ của Bụt, Tấm trở thành hoàng hậu. Tuy nhiên, Tấm bị mẹ con Cám sát hại nhiều lần, sau đó hóa thân qua nhiều kiếp (chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị). Cuối cùng, Tấm trở lại làm người, trừng trị kẻ ác và sống hạnh phúc.

b. Nhân vật và ý nghĩa
-Tấm: hiền lành, chăm chỉ, giàu tình thương; đồng thời kiên cường, không cam chịu, biết đứng lên chống lại cái ác
-Cám và dì ghẻ: hiện thân của cái ác, độc ác, tham lam, ghen ghét
-Bụt: tượng trưng cho niềm tin, khát vọng công bằng và sự chở che của nhân dân dành cho người lương thiện.

c. Giá trị của truyện
-Giá trị hiện thực: phản ánh sự đối kháng giữa người lao động lương thiện và kẻ ác trong xã hội
-Giá trị nhân đạo: ca ngợi vẻ đẹp, phẩm chất của con người hiền lành, chăm chỉ; khẳng định ước mơ công lý, ở hiền gặp lành.
-Giá trị nghệ thuật: xây dựng cốt truyện hấp dẫn, giàu kịch tính; nghệ thuật hóa thân sáng tạo; ngôn ngữ dân gian giản dị mà giàu sức gợi.

3. Kết luận

Tấm Cám là truyện cổ tích tiêu biểu, vừa phản ánh quy luật “thiện thắng ác bại”, vừa gửi gắm ước mơ hạnh phúc, công bằng của nhân dân. Qua đó, tác phẩm bồi đắp niềm tin vào những giá trị tốt đẹp, hướng con người đến lối sống nhân ái, kiên cường.

0