A. Ninh Bình

B. Hà Nội<...">

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

29 tháng 9 2025

Olm chào em, theo địa giới cũ thì có tỉnh Hải Dương, theo địa giới mới thì nó là tỉnh Hải Phòng. Việc này là do sát nhập Hải Dương với Hải Phòng và đặt tên là: Hải Phòng

-Họ tên: Nguyễn Thắng ( 1835-1909)- Quê quán: Làng Văn Khê, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (quê ngoại). Quê nội ở làng Vị Hạ (Yên Đỗ), xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. - Vị trí trong nền văn học:+ Nhà thơ Tam nguyên Yên Đổ+ Nhà thơ của làng cảnh Việt Nam+Bậc thầy thơ Nôm+Đại biểu cuối mùa trung đại-Đề tài sáng tác: +Tâm sự, bộc bạch cá nhân+Con người, cảnh vật...
Đọc tiếp

-Họ tên: Nguyễn Thắng ( 1835-1909)

- Quê quán: Làng Văn Khê, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (quê ngoại). Quê nội ở làng Vị Hạ (Yên Đỗ), xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

- Vị trí trong nền văn học:

+ Nhà thơ Tam nguyên Yên Đổ

+ Nhà thơ của làng cảnh Việt Nam

+Bậc thầy thơ Nôm

+Đại biểu cuối mùa trung đại

-Đề tài sáng tác:

+Tâm sự, bộc bạch cá nhân

+Con người, cảnh vật làng quê

+Phê phán xã hội

-Phong cách sáng tác:

+Trữ tình: Thể hiện tâm hồn trong sáng, yêu thiên nhiên, con người và đất nước

+ Trào phúng: Giọng thơ mỉa mai, châm biếm sâu cay nhưng vẫn đượm tình cảm, sâu lắng,.

+ Ngôn ngữ: Giàu màu sắc, tinh tế, sáng tạo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa thơ chữ Hán và Nôm.

+ Triết lí: Tác phẩm nhuốm đậm tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông Phương.

- Những tác phẩm chính:

+ Chùm thơ thu: " Vịnh màu thu", "Câu cá mùa thu", " Uống rượu mùa thu"

+ Tự trào

+ Quế sơn thi tập

0
-Họ và tên : Nguyễn Thắng-Năm sinh-năm mất : 1835-1909-Quê quán : Quê nội ở làng Vị Hạ (Yên Đỗ, Hà Nam), quê ngoại ở làng Văn Khế (Ý Yên, Nam Định).-Vị trí của ông trong nền văn học : Là một trong những nhà thơ Nho giáo cuối mùa, một trong những đại biểu cuối cùng của mẫu hình thi nhân nhà Nho chính thống.  Ông được xem là "nhà thơ của làng cảnh Việt Nam" với những tác phẩm trữ...
Đọc tiếp

-Họ và tên : Nguyễn Thắng

-Năm sinh-năm mất : 1835-1909

-Quê quán : Quê nội ở làng Vị Hạ (Yên Đỗ, Hà Nam), quê ngoại ở làng Văn Khế (Ý Yên, Nam Định).

-Vị trí của ông trong nền văn học :

  • Là một trong những nhà thơ Nho giáo cuối mùa, một trong những đại biểu cuối cùng của mẫu hình thi nhân nhà Nho chính thống. 
  • Ông được xem là "nhà thơ của làng cảnh Việt Nam" với những tác phẩm trữ tình sâu lắng về vẻ đẹp thanh bình của thôn quê. 
  • Đồng thời, ông là nhà thơ trào phúng sâu sắc, đả kích bọn quan lại tham lam, thói đạo đức giả trong xã hội thực dân nửa phong kiến. 
  • -Đề tài sáng tác : tâm sự cá nhân, về con người ,cảnh vật quê hương , chế giễu đả kích những người phơi bày thói đạo đức giả, sự vô vị của những người '' tiến sĩ giấy '' và bọn quan lại sâu béo trong xã hội.
  • -Phong cách sáng tác : trữ tình, trào phúng ,gần gũi bình dị
  • Những tác phẩm chính của ông là :
  • + Quế Sơn thi tập
  • + Chùm thơ thu
  • + Thơ Nôm và thơ Hán
0
BÀI ÔN LUYỆN VĂN BẢN “NHỚ RỪNG” Bài tập 1.Một bạn học sinh đã chép hai câu thơ đầu của bài thơ “Nhớ rừng” của nhà thơ Thế Lữ như sau: Ngậm một nỗi căm hờn trong cũi sắt Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua. a) Bạn ấy đã chép sai ở chỗ nào? Em hãy chép lại cho đúng với nguyên bản. b) So sánh các từ bị chép sai...
Đọc tiếp

BÀI ÔN LUYỆN VĂN BẢN “NHỚ RỪNG”

Bài tập 1.Một bạn học sinh đã chép hai câu thơ đầu của bài thơ “Nhớ rừng” của nhà thơ Thế Lữ như sau:

Ngậm một nỗi căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua.

a) Bạn ấy đã chép sai ở chỗ nào? Em hãy chép lại cho đúng với nguyên bản.

b) So sánh các từ bị chép sai với các từ ở trong nguyên bản để thấy rõ cái hay trong việc dùng từ của nhà thơ Thế Lữ.

c) Có ý kiến cho rằng hai câu thơ đã thể hiện sự đối lập giữa vẻ bên ngoài với nội tâm của con hổ. Em có đồng tình với ý kiến này không ? Vì sao ?

Bài tập 2.Khổ thơ thứ ba của bài thơ “Nhớ rừng” được xem là một bộ tranh tứ bình độc đáo. Hãy viết một đoạn vân trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của bộ tranh ấy.

Bài tập 3. Trong bài thơ “Nhớ rừng”, cảnh vườn bách thú và cảnh giang sơn ngày xưa của hổ hoàn toàn đối lập với nhau. Hãy tìm những chi tiết, hình ảnh thể hiện điều ấy.

Bài tập 4. Vì sao nhà thơ Thế Lữ lại mượn “lời con hổ ở vườn bách thú” ?. Việc mượn lời đó có tác dụng thế nào trong việc thể hiện nội dung cảm xúc của bài thơ ?

Bài tập 5. Vì sao có thể nói bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ đã khơi gợi lòng yêu nước thầm kín của người dân mất nước thuở ấy ?

Giúp mk vs ạ !!!

2
4 tháng 4 2020

Bài 4

  • Lý do: Tác giả mượn lời con hổ để bộc lộ cảm xúc của mình vì không muốn để mình xuất hiện một cách trực tiếp mà muốn bộc lộ cảm xúc một cách thầm kín nhưng khách quan để người đọc có cái nhìn đúng đắn.
  • Tác dụng:
    • Hổ được xem là chúa sơn lâm, là vua của muôn loài, bởi sức mạnh, chí khí của nó. Tác giả mượn lời con hổ cũng là để thể hiện khí phách của một trang nam tử trong hoàn cảnh đất nước đang lầm than, đau khổ cũng giống như con hổ đang bị giam cầm trong không gian chật hẹp của vườn thú.
    • Bộc lộ cảm xúc của tác giả một cách mạnh mẽ, mãnh liệt, đầy ấn tượng khiến cho người đọc tò mò, hứng thú
    • Đồng thời, cũng khơi dậy trong lòng những người con mất nước một nỗi nhục, thức tỉnh ý chí chiến đấu trong họ, để họ vùng lên, vượt thoát khỏi cảnh cầm tù này, trở về với núi rừng với ý chí tung hoành, với vị thế mà một vị chúa sơn lâm nên có. Ấy là khi họ đấu tranh vì đất nước.
    • Thể hiện tinh thần yêu nước thầm kín, tha thiết của Thế Lữ
4 tháng 4 2020

Bài 2

Khổ thơ thứ 3 là những hồi ức uy nghi, lẫm liệt của “chúa sơn lâm” trong rừng xanh, đó là những kí ức không thể nào quên. Khung cảnh thiên nhiên hiện ra đẹp với cảnh trăng, rừng, mặt trời.

Hai câu thơ đầu nói về “đêm vàng”, ánh trăng sáng quá như biến mọi vật thành màu vàng, trong đêm trăng đó đứng bên bờ suối ngắm nhìn thiên nhiên tuyệt đẹp. Trong khung cảnh đó con hổ ăn no rồi còn thưởng thức cả “ánh trăng tan”. Một hình ảnh nhân hóa vô cùng đẹp, chủ thể hòa quyện vào cả thiên nhiên.

Đi qua sự yên bình là những cơn mưa lớn như làm rung chuyển cả núi rừng, điều đó thể hiện ở 2 câu thơ tiếp theo, nhưng chúa sơn lâm vẫn không hề e sợ mà vẫn “lặng ngắm giang sơn”. Hình ảnh đó thể hiện sự bản lĩnh và sức mạnh trước thiên nhiên.

Kỷ niệm về thời kì huy hoàng tiếp tục hiện về khung cảnh bình minh. Vương quốc tràn ngập trong màu xanh và ánh nắng. Hổ nằm ngủ ngon lành trong khúc nhạc của tiếng chim muôn. Bức tranh trên hiện ra đầy màu sắc và âm thanh, màu hồng bình minh, màu vàng nhạt nắng sớm, màu xanh cây rừng, âm thanh vui nhộn của đàn chim. Tất cả đều tạo ra một không gian nghệ thuật, cảnh sắc hệt như xứ sở thần tiên.

Nhưng than ôi tất cả chỉ còn là kí ức huy hoàng, quá khứ càng oanh liệt nỗi tiếc nuối, hoài niệm càng đau đớn. Các cụm từ trước mỗi câu thơ như “nào đâu”, “đâu những”, càng cho thấy niềm nuối tiếc khôn cùng, sự xót xa trong chính con hổ. Bức tranh tứ bình đã khép lại, chỉ còn lại hình ảnh hiện thực tối tăm, gian cầm, tù túng và sự khát khao mãnh liệt được tự do.

Họ và tên : Nguyễn Khuyến ( 1835- 1909)Quê quán: làng Vị Hạ, xã Yên Đổ, tỉnh Ninh BìnhVị trí trong nền văn học: là một nhà thơ lớn của văn học dân tộc Việt Nam thế kỷ XIX, đặc biệt nổi bật trong văn học yêu nước thời kỳ nửa cuối thế kỷ XIX. Ông được coi là đại diện tiêu biểu cho nho sĩ yêu nước dưới thời thực dân Pháp mới xâm lược, với thái độ bất hợp tác và lòng yêu...
Đọc tiếp

Họ và tên : Nguyễn Khuyến ( 1835- 1909)

Quê quán: làng Vị Hạ, xã Yên Đổ, tỉnh Ninh Bình

Vị trí trong nền văn học: là một nhà thơ lớn của văn học dân tộc Việt Nam thế kỷ XIX, đặc biệt nổi bật trong văn học yêu nước thời kỳ nửa cuối thế kỷ XIX. Ông được coi là đại diện tiêu biểu cho nho sĩ yêu nước dưới thời thực dân Pháp mới xâm lược, với thái độ bất hợp tác và lòng yêu nước sâu sắc.

Đề tài sáng tác: cuộc sống làng quê Việt Nam, cuộc sống nho sĩ lúc về hưu, tình cảm gia điình, bạn bè.

Phong cách sáng tác: Ngôn ngữ bình dị, gẫn gũi với đời sống nông thôn,đậm chất dân gian. Sử dụng tài tình thơ Đường luật và thơ Nôm,...

Những tác phẩm chính: Thu Điếu, Thu Ẩm, Thu Vị,Khóc Dương Khuê, Chạy Tây,...


0
Họ và tên, năm sinh – năm mất, quê quán-Tên thật: Nguyễn Thắng, sau đổi là Nguyễn Khuyến-Năm sinh – năm mất: 1835 – 1909-Quê quán: Làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam-Ông đỗ đầu cả ba kì thi → được gọi là Tam Nguyên Yên ĐổVị trí trong nền văn học-Nhà thơ lớn cuối thế kỉ XIX-Được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”-Góp phần quan trọng trong việc phát triển thơ...
Đọc tiếp

Họ và tên, năm sinh – năm mất, quê quán

-Tên thật: Nguyễn Thắng, sau đổi là Nguyễn Khuyến

-Năm sinh – năm mất: 1835 – 1909

-Quê quán: Làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

-Ông đỗ đầu cả ba kì thi → được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ

Vị trí trong nền văn học

-Nhà thơ lớn cuối thế kỉ XIX

-Được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”

-Góp phần quan trọng trong việc phát triển thơ Nôm

Đề tài sáng tác

-Cảnh sắc thiên nhiên, đặc biệt là mùa thu Bắc Bộ

-Cuộc sống thôn quê bình dị, gắn bó với làng cảnh Việt Nam

-Tình cảm yêu nước, nỗi u uẩn trước thời thế

-Thơ trào phúng châm biếm bọn quan lại, thói đời

Phong cách sáng tác

-Giản dị, trong sáng, gần gũi dân gian

-Miêu tả tinh tế, tự nhiên, ngôn ngữ điêu luyện

-Giọng điệu vừa trữ tình sâu lắng, vừa trào phúng sâu cay

Những tác phẩm chính

-Chùm thơ thu nổi tiếng: Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm

-Thơ trào phúng: Vịnh tiến sĩ giấy, Làm quan, Ông phỗng đá

-Nhiều tác phẩm khác viết về tình bạn, quê hương, nông thôn

0
1 tháng 6 2020

Bài học tận dụng thời cơ, sống hết mình cho từng khoảnh khắc hiện tại.