Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: Ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống.
- Giải thích “sự tử tế” là tấm lòng lương thiện, phẩm chất tốt đẹp của con người, luôn hướng đến mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, sẵn sàng sẻ chia với người khác.
- Ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống:
+ Khi giúp đỡ người khác bằng tấm lòng chân thành, ta sẽ thấy vui vẻ, thoải mái, hạnh phúc, được mọi người yêu quý, kính trọng.
+ Những người nhận được sự tử tế, quan tâm, sẻ chia cảm thấy có động lực để vững vàng, có niềm tin hơn vào cuộc đời.
+ Khi tất cả mọi người đều đối xử với nhau bằng sự tử tế, tốt bụng, xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
- Phản đề:
+ Phê phán những người sống vô cảm, xấu xa.
+ Không phải sự tử tế nào cũng chân thành, có những người làm việc tốt để đánh bóng tên tuổi bản thân -> lên án.
- Liên hệ bản thân.
Câu 2:
Bài làm của học sinh đảm bảo các ý sau:
1. Giới thiệu tác phẩm “Chinh phụ ngâm” và tác giả, dịch giả.
a. Tác giả Đặng Trần Côn (?):
- Sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII.
- Là người thông minh, tài hoa, hiếu học.
- Tính cách “đuyềnh đoàng ko buộc”- tự do, phóng túng nên ko đỗ đạt cao, chỉ đỗ Hương cống và giữ các chức quan thấp.
- Các tác phẩm: Chinh phụ ngâm, thơ và phú bằng chữ Hán.
b. Dịch giả:
- Đoàn Thị Điểm (1705- 1748):
+ Hiệu: Hồng Hà nữ sĩ.
+ Quê: Giai Phạm - Văn Giang - xứ Kinh Bắc.
+ Là người nổi tiếng tài sắc, tính cách khác thường.
+ 37 tuổi kết hôn với ông Nguyễn Kiều- một tiến sĩ góa vợ. Năm 1743, ông Nguyễn Kiều đi xứ Trung Quốc. Trong thời gian ông đi xứ, Đoàn Thị Điểm sống cuộc sống ko khác người chinh phụ là mấy " đồng cảm
c. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:
- Đầu đời vua Lê Hiển Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành.
- Triều đình cất quân đánh dẹp.
" Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”.
d. Đoạn trích
- Vị trí: từ câu 9 – câu 16 trong đoạn trích sách giáo khoa.
2. Cảm nhận tâm trạng người chinh phụ trong đoạn trích.
a. Cảm nhận ngoại cảnh (câu 9 – 16)
- Tiếng gà: “gà eo óc gáy sương năm trống”: “eo óc” từ láy tượng thanh diễn tả âm thanh nhức nhối, thê lương, vang lên, vọng từ xa đến cho thấy không gian tĩnh mịch, vắng vẻ.
-> Chinh phụ đã thao thức qua cả một đêm dài
- Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
-> Báo hiện đã hết một ngày dài: “phất phơ” là từ láy tượng hình, gợi nhịp điệu chậm rãi, tẻ nhạt.
-> tâm trạng con người buồn chán, ngao ngán.
=> Hai hình ảnh tương hỗ để diễn tả sự thao thức triền miên, khắc khoải của chinh phụ trong cô đơn, lê loi.
=> Đau khổ trong vô vọng
=> Từ nỗi cô đơn bủa vây, chinh phụ cảm nhận thấm thía nỗi cô đơn hơn bao giờ hết:
- Khắc giờ đằng đẵng như niên: thời gian trôi qua rất nặng nề, vô vị.
- Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa: nỗi buồn trải dài mênh mông đến không cùng.
-> Dùng biện pháp so sánh để diễn tả cụ thể tâm trạng của chinh phụ để thấy nỗi buồn mênh mông.
b. Thể hiện qua sự gắng gượng chạy trốn nỗi cô đơn (câu 13- câu 16)
- Gương đốt hương:
+ để tìm sự thanh thản trong mùi trầm thoang thoảng
+ tìm sự che chở ở thế giới siêu nhiên, thần bí.
-> Trái với mục đích hướng đến của chinh phụ, thực tế lại “hồn đà mê mải”, chinh phụ càng chìm đắm sâu hơn trong sầu muộn.
- Gượng soi gương: để tìm thú vui trong việc chỉnh trang nhan sắc.
-> Nhưng khi soi gương lại phải đối diện với hai điều:
+ Đối mặt với sự cô đơn, thấm thía tình cảnh bi đát của mình: chỉ một mình mình một bóng
+ Nhận thấy tuổi xuân đang dần tàn phai.
-> Nước mắt càng thêm chan chứa “lệ lại châu chan”, càng thấy buồn khổ hơn bao giờ hết.
=> Người chinh phụ thấm thía hơn tuổi xuân của mình tàn phai trong cô đơn, sầu muộn.
- Gượng đánh đàn: nhưng khi chạm đến đàn lại tự ý thức về tình cảnh của mình:
+ Thấy tủi thân trước những biểu tượng của đôi lứa ẩn chứa trong các nhạc cụ:
· Đàn sắt, đàn cầm: gảy hòa âm với nhau được ví cảnh vợ chồng hòa thuận.
· Dây uyên: dây đàn uyên ương – biểu tượng cho lứa đôi gắn bó, hòa hợp.
· Phím đàn loan phượng – biểu tượng của lứa đôi gắn bó.
=> Tất cả các nhạc cụ để có đôi có lứa, chỉ có mình mình cô đơn, lẻ bóng.
=> Càng cô đơn, tủi thân
-> Thậm chí thấy lo lắng, khi chơi đàn rất sợ:
+ Dây đàn bị đứt
+ Phím đàn bị chùng
-> Biểu hiện cho sự không may mắn của lứa đôi, là điềm gở.
=> Tìm đến những nhạc cụ nhưng cũng không chạy trốn được nỗi cô đơn.
=> Chinh phụ cố gắng tìm quên bằng cách tìm đến những thú vui của phụ nữ quý tộc xưa. Càng tìm quên lại càng đối diện với bi kịch của mình, càng thấm thía bi kịch của mình và càng đau khổ hơn bao giờ hết.
câu 1 :
Nhân dân ta có rất nhiều câu ca dao hay viết về cha mẹ như:
"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kinh́ cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con''.
Người mẹ là người cùng ta thực hiện mơ ước cuả ta mẹ luôn hy sinh bản thân minh̀ để cho con cómột cuộc sống tốt đẹp hơn
Câu 1
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vào bài bằng các tình càm cao quý trong cuộc sống của mỗi người: tình cảm gia đình, tình anh em, tình cảm bạn bè,..
- Nhấn mạnh tình mẫu tử là loại tình cảm có vị trí đặc biệt quan trọng
2. Thân bài:
* Khái quát chung thế nào là tình mẫu tử:
+ Đây là một tình cảm thiêng liêng giữa mẹ và con
+ Tình mẫu tử thể hiện sự gắn bó, yêu thương và chăm sóc
* Bình luận về tình mẫu tử:
+ Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng và có vai trò đặc biệt với mỗi con người:
- Từ khi con người sinh ra đã có mẹ ở bên, có sự yêu thương che chở của mẹ: mẹ mang thai, sinh chúng ta, chăm chúng ta,….
- Mẹ là người có tấm lòng cao cả, tha thứ mọi lội lầm dù lớn đến mức nào của chúng ta
- Tình mẫu tử cũng là truyền thống đạo lí của dân tộc ta từ xưa
+ Tình mẫu tử đối với mỗi người:
- Một người có tình mẫu tử sẽ có cuộc sống hạnh phúc, được yêu thương
- Ai không có tình mẫu tử thì rất bất hạnh và là một thiệt thòi
+ Vai trò của tình mẫu tử:
- Tình mẫu tử soi sáng đường cho chúng ta đi
- Giúp chúng ta thức tỉnh khi có chút vấp ngã trong cuộc sống
* Trách nhiệm của chúng ta trước tình mẫu tử:
+ Chúng ta cần giữ gìn và tôn trọng tình cảm thiêng liêng này
+ Không ngừng học tập và báo đáp công ơn mẹ cha
+ Không có những hành động thiếu tình mẫu tử
3. Kết bài
Đưa ra cảm nghĩ của bản thân về tình mẫu tử
- Đây là một tình cảm rất thiêng liêng
- Chúng ta phải tự hào vì được có tình mẫu tử
- Cố gắng học tập để báo hiếu cha mẹ
Câu 2:
1. Mở Bài
- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Du và đoạn trích “Trao duyên”.
- Nêu nội dung chính của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.
2. Thân Bài
a. Hai câu thơ đầu
- Thúy Kiều nhờ cậy Thúy Vân nối duyên với Kim Trọng.
- Lời nói, hành động trang trọng (từ “cậy”, “lạy”, “thưa”) nhưng cũng mang sắc thái nài ép Thúy Vân nhận lời giúp đỡ.
b. Sáu câu thơ tiếp theo
- Thúy Kiều giãi bày nguyên nhân dẫn đến việc nhờ cậy Thúy Vân giúp mình. Đó là sự dang dở trong tình yêu với Kim Trọng: “Giữa đường đứt gánh tương tư”.
- Hình ảnh ẩn dụ “gánh tương tư”: Chỉ tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng.
- Nàng chia sẻ với em gái về câu chuyện tình yêu của mình. Kể từ khi gặp Kim Trọng, hai người đã nảy sinh tình cảm cùng thề nguyền, đính ước nhưng bỗng nhiên sóng gió xảy ra với gia đình Kiều, nàng đành hi sinh chữ “tình” để làm tròn chữ “hiếu” với cha mẹ.
c. Bốn câu cuối
- Thúy Kiều thuyết phục Thúy Vân bằng những lí lẽ xác đáng. Nàng nhắc đến “ngày xuân”, tuổi trẻ của Thúy Vân vẫn còn dài và nhắc đến tình nghĩa chị em máu mủ khiến Thúy Vân không thể từ chối việc nàng cậy nhờ.
- Dù cho bản thân mình có “thịt nát xương mòn” thì Kiều vẫn vui vẻ, “ngậm cười” nơi chín suối. Nàng quả là người con gái sống tình nghĩa và có đức hi sinh.
-Thành ngữ “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối” được Nguyễn Du sử dụng tài tình và khéo léo.
- Giọng điệu xót xa, đau đớn.
3. Kết Bài
- Nêu cảm nhận riêng của bản thân về 12 câu thơ đầu.
- Khẳng định giá trị của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.
câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ
câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả
phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống
câu 3:
chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.
chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.
câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt.
Caau1: Thể thơ được sử dụng trong đoạn trích: song thất lục bát.
Câu 2: Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là người chinh phụ/ người phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi xa/ người vợ có chồng đi chinh chiến nơi xa.
Câu 3: “Mẹ già, con thơ” trong đoạn trích được miêu tả qua những hình ảnh, từ ngữ;
Mẹ già phơ phất mái sương,/ Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Còn thơ măng sữa, / Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ: cô đơn, buồn tủi, nhớ thương chồng.
Câu 5: Nhân vật trữ tình hiện lên với những phẩm chất:
- Đảm đang, tần tảo.
- Giàu đức hi sinh.
Câu 6:
- Người phụ nữ trong xã hội xưa là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa, số phận bất hạnh nhưng sáng ngời phẩm chất tốt đẹp.
-> Tình cảm, suy nghĩ:
+ Xót thương, cảm thông với số phận bất hạnh, không được hạnh phúc.
+ Ngợi ca, trân trọng, cảm phục những phẩm chất tốt đẹp của họ.
Vì R1nối tiếp R2⇒UAB=U1+U2
Mà UAB=I.Rtđ
U1=I.R1 , U2=I.R2
⇒I.Rtđ=I.R1+I.R2
⇔Rtđ=R1+R2
Trong mạch nối tiếp ta có U = U1 + U2 = IR1 + IR2 = I(R1 + R2).
Mặt khác, U = IRtđ. Từ đó suy ra: Rtđ = R1 + R2.
~ nhớ k ~
꧁༺мιин❖đứ¢༻꧂
Gợi ý trả lời
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là: biểu cảm.
Câu 2: Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều sau: : tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết.
Câu 3:
Điệp cấu trúc “nếu là … con hãy (con phải) được lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành một người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu.
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản.
Câu 4:
Thông điệp:
Phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là: biểu cảm
Câu 2:
Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều: tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết
Câu 3:
Phép điệp cấu trúc: nếu là….con hãy.
Được lặp di lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành 1 người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản
Câu 4:
Theo em, thông điệp có ý nghĩa nhất là: phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. Vì khi chúng ta mở rộng tấm lòng, chia sẻ với người khác những niềm vui,nỗi buồn của mình, học cách lắng nghe, đồng cảm, sẻ chia với những buồn vui, khó khăn của người khác. Khi đó, ta sẽ thấy yêu đời và yêu người hơn, cuộc sống này ấm áp yêu thương và đáng sống biết bao.
Câu 1. Câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay.
Câu 2 Tác giả cho rằng “cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha” vì ở thời đại công nghệ số, con người chỉ cần gõ bàn phím máy tính hoặc điện thoại di động đã có thể tiếp cận thông tin ở nhiều phương diện của đời sống, tại bất cứ nơi đâu, trong bất kì thời gian nào, nên việc đọc sách đã dần trở nên phôi pha.
Câu 3
theo em, em không đồng tình với ý kiến đó. Bởi vì sách có những tác dụng rất to lớn. Những cuốn sách cung cấp cho ta kiến thức, bồi dưỡng tâm hồn ta, rèn luyện tư duy và khả năng con người. Muốn hoàn thiện nhân cách tốt, cần phải năng đọc sách. Và đọc sách là một việc làm không thể thiếu đối với quá trình hoàn thiện nhân cách con người, nhất là với lứa tuổi thanh thiếu niên học sinh trong guồng quay cuộc sống đầy hối hả, vội vã của cuộc sống hiện đại. Nhận định rằng Internet cũng có những lợi ích nhất đinhj đối với con người, song ta không thể nào phủ nhận được vai trò của sách. Có những điều, những trải nghiêm chỉ có những ai đọc sách, yêu sách mới hiểu; dĩ nhiên Internet không thể nào đem lại cho ta những điều như vậy....
–Câu 4
Sách tốt là loại sách mở ra cho ta chân trời mới, giúp ta mở mang kiến thức về nhiều mặt: cuộc sống, con người, trong nước, thế giới, đời xưa, đời nay, thậm chí cả những dự định tương lai, khoa học viễn tưởng.
– Bạn hiền đó là người bạn có thể giúp ta chia sẻ những nỗi niềm trong cuộc sống, giúp ta vươn lên trong học tập, cuộc sống.
→ Do tác dụng tốt đẹp như nhau mà có nhận định ví von Một quyển sách tốt là một người bạn hiền.
– Sách cung cấp cho ta những tri thức, kinh nghiệm quý báu về mọi lĩnh vực trong cuộc sống để ta giải quyết được những nhiệm vụ của cuộc sống.
– Sách tốt là người bạn hiển kể cho ta bao điều yêu thương, bao kiếp người điêu linh đói khổ mà vẫn giữ trọn vẹn nghĩa tình.
– Sách cho ta hiểu và cảm thông với bao kiếp người, với những mảnh đời ở những nơi xa xôi, giúp ta vươn tới chân trời của ước mơ, ước mơ một xã hội tốt đẹp.
– Sách giúp ta chia sẻ, an ủi những lúc buồn chán.
=> Sách giúp ta nâng cao hiểu biết và hoàn thiện nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn.
Ý kiến là một chân lí rút ra từ thực tiễn học tập và giao tiếp của con người, có tác dụng định hướng con người tiếp cận tri thức trong cuộc sống.
– Trong xã hội có sách tốt và sách xấu, bạn tốt và bạn xấu do đó cần chọn bạn mà chơi cũng như chọn sách mà đọc.
– Phê phán những người lười đọc sách.

Câu 2 :
Câu 1:
Câu nói của Paul Coelho: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” nhấn mạnh ý nghĩa của sự kiên trì trong cuộc sống. Thất bại là điều không thể tránh khỏi, bởi mỗi con người đều phải trải qua những thử thách, khó khăn trên hành trình trưởng thành. Tuy nhiên, điều quan trọng không nằm ở việc ta đã ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần vấp ngã, ta có đủ dũng khí để đứng dậy hay không. Đứng dậy sau thất bại giúp con người rút ra bài học, tích lũy kinh nghiệm và trở nên mạnh mẽ hơn. Nếu dễ dàng bỏ cuộc, ta sẽ không bao giờ đạt được thành công. Trong thực tế, nhiều người nổi tiếng đã từng thất bại nhiều lần trước khi thành công, chính sự kiên trì đã giúp họ chạm tới ước mơ. Vì vậy, mỗi học sinh cần rèn luyện ý chí, không sợ sai, không nản chí trước khó khăn. Câu nói là lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải luôn vững vàng, lạc quan và không ngừng cố gắng để vươn tới mục tiêu trong cuộc sống.
Câu 2:
Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc tư tưởng sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi và đề cao nhân nghĩa của tác giả.
Trước hết, về nội dung, bài thơ mở đầu bằng tâm thế rời bỏ chốn quan trường:
“Rộng khơi ngại vượt bể triều quan,
Lui tới dời thì miễn phận an.”
Nguyễn Trãi chủ động xa lánh chốn quan trường đầy bon chen, chọn cuộc sống ẩn dật để giữ sự bình yên cho tâm hồn. Đây không phải là thái độ trốn tránh mà là sự lựa chọn của một nhân cách lớn, hiểu rõ thời cuộc.
Hai câu tiếp theo khắc họa cuộc sống giản dị mà thanh cao:
“Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,
Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan.”
Hình ảnh thiên nhiên tinh tế, giàu chất thơ cho thấy tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên và sống hòa hợp với thiên nhiên của tác giả.
Ở hai câu luận, Nguyễn Trãi bày tỏ quan niệm về cách dùng người và con đường đạo đức:
“Đời dùng người có tài Y, Phó,
Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan.”
Ông nhắc đến những bậc hiền tài để khẳng định giá trị của người có đức, có tài, đồng thời giữ vững đạo lý Nho gia trong mọi hoàn cảnh.
Hai câu kết thể hiện triết lí sống sâu sắc:
“Kham hạ hiền xưa toan lấn được,
Ngẫm câu: danh lợi bất như nhàn.”
Tác giả khẳng định danh lợi không bằng cuộc sống nhàn tĩnh, an nhiên. Đây là kết tinh của một nhân sinh quan cao đẹp, đề cao giá trị tinh thần hơn vật chất.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ, ngôn ngữ hàm súc, hình ảnh giàu tính biểu tượng. Giọng điệu trầm lắng, suy tư giúp thể hiện rõ chiều sâu tư tưởng.
Tóm lại, bài thơ không chỉ là bức tranh về cuộc sống ẩn dật mà còn là lời khẳng định nhân cách cao quý của Nguyễn Trãi: sống thanh bạch, giữ vững đạo lý và coi nhẹ danh lợi. Đây là bài học ý nghĩa cho mỗi con người trong cuộc sống hôm nay.
Câu 1 :
Trong tác phẩm Nhà giả kim, Paulo Coelho đã viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói gửi gắm một triết lý sống sâu sắc về nghị lực và ý chí của con người. Trong cuộc sống, thất bại là điều không thể tránh khỏi. Mỗi lần vấp ngã có thể khiến ta đau đớn, chán nản, thậm chí muốn bỏ cuộc. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là ta ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần như vậy, ta có đủ dũng khí để đứng dậy và tiếp tục hay không.Việc “đứng dậy tám lần” không chỉ đơn thuần là hành động, mà còn là biểu tượng của niềm tin, sự kiên trì và khát vọng vươn lên. Những người thành công thường không phải là người chưa từng thất bại, mà là người không từ bỏ sau thất bại. Nếu thiếu ý chí, con người dễ dàng bị đánh gục trước khó khăn; ngược lại, nếu có nghị lực, họ sẽ biến thử thách thành cơ hội để trưởng thành . Vì vậy, mỗi chúng ta cần học cách chấp nhận thất bại như một phần tất yếu của cuộc sống, đồng thời rèn luyện bản lĩnh để kiên cường đứng dậy, tiến về phía trước.
Câu 2 :
Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” của Nguyễn Trãi là một tác phẩm giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật, thể hiện sâu sắc nhân sinh quan và triết lý sống của tác giả.
Về nội dung, bài thơ thể hiện quan niệm sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi và hướng đến sự an nhiên, tự tại. Hai câu đầu mở ra hai con đường đối lập: “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan / Lui tới đời thì miễn phận an.” Tác giả ý thức rõ những khó khăn, hiểm nguy của con đường làm quan, từ đó lựa chọn lối sống lui về, giữ trọn sự bình yên cho bản thân. Đây không phải là sự trốn tránh, mà là một thái độ sống có suy ngẫm, từng trải.
Hai câu tiếp theo vẽ nên một không gian thanh tĩnh, gầ n gũi với thiên nhiên: “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt / Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan.” Những hình ảnh tinh tế, nhẹ nhàng cho thấy tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên và hướng nội của Nguyễn Trãi. Cuộc sống giản dị nhưng giàu chất thơ, giúp con người tìm thấy sự thư thái trong tâm hồn.
Đến hai câu luận, tác giả nhắc đến những con người tài giỏi như Y, Phó và các bậc hiền triết Khổng, Nhan, qua đó thể hiện sự suy ngẫm về thời thế và giá trị con người. Ông nhận ra rằng tài năng không phải lúc nào cũng được trọng dụng, từ đó càng củng cố lựa chọn sống ẩn dật của mình.
Hai câu kết khẳng định triết lý sống: “Khám hạ hiền xưa toan lẫn được / Ngâm câu: danh lợi bất như nhàn.” Câu thơ như một lời tự nhủ: danh lợi không thể so sánh với sự nhàn tản, thanh thản trong tâm hồn. Đây là đỉnh cao của tư tưởng sống mà Nguyễn Trãi hướng tới
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với ngôn ngữ cô đọng, hàm súc. Hình ảnh thơ giản dị mà giàu sức gợi, kết hợp giữa tả cảnh và bộc lộ tâm trạng. Biện pháp đối, ẩn dụ được vận dụng linh hoạt, góp phần làm nổi bật tư tưởng chủ đề .
Bài thơ không chỉ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi mà còn gửi gắm một thông điệp sâu sắc: sống thanh cao, biết buông bỏ danh lợi để giữ gìn sự an nhiên mới là giá trị bền vững của con người.
Câu 1: Câu nói: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” gợi ra một bài học sâu sắc về nghị lực sống. Trong hành trình đời người, thất bại là điều không thể tránh khỏi. Không ai luôn thành công ngay từ đầu, mà thường phải trải qua nhiều lần vấp ngã. Tuy nhiên, điều quan trọng không nằm ở số lần ta thất bại, mà ở việc ta có đủ dũng khí để đứng dậy hay không. “Đứng dậy tám lần” không chỉ là hành động mà còn là biểu tượng cho ý chí kiên cường, tinh thần không bỏ cuộc. Người có bản lĩnh sẽ xem thất bại là cơ hội để học hỏi, rèn luyện và trưởng thành hơn. Ngược lại, nếu dễ dàng nản chí, con người sẽ mãi bị mắc kẹt trong chính khó khăn của mình. Trong thực tế, nhiều người thành công đều từng trải qua vô số lần thất bại trước khi đạt được mục tiêu. Vì vậy, mỗi chúng ta cần rèn luyện sự kiên trì, lòng quyết tâm và niềm tin vào bản thân. Chỉ khi biết đứng lên sau mỗi lần vấp ngã, ta mới có thể chạm tới thành công và sống một cuộc đời có ý nghĩa.
Câu 2 Bài thơ Bảo kính cảnh giới của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc tâm trạng và quan niệm sống của một trí thức lớn khi lui về ở ẩn, đồng thời bộc lộ vẻ đẹp nhân cách thanh cao của ông. Về nội dung, bài thơ trước hết cho thấy tâm thế chán nản chốn quan trường. Câu thơ mở đầu “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan” gợi lên hình ảnh con đường làm quan đầy sóng gió, hiểm nguy khiến tác giả không còn muốn dấn thân. Ông lựa chọn “lui tới đòi thì miễn phận an”, tức là sống thuận theo thời thế, giữ lấy sự bình yên cho mình. Những câu thơ tiếp theo vẽ nên bức tranh sinh hoạt thanh nhàn, gần gũi với thiên nhiên: “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt / Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan”. Cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên cho thấy tâm hồn tinh tế và lối sống thanh cao của Nguyễn Trãi. Không chỉ dừng lại ở đó, bài thơ còn thể hiện quan niệm về tài năng và đạo đức. Tác giả ý thức rằng triều đình cần những người tài giỏi như “Y, Phó”, nhưng trong hoàn cảnh “nhà ngặt”, ông vẫn kiên định giữ đạo lý “Khổng, Nhan”. Điều này cho thấy phẩm chất trung thực, không vì danh lợi mà đánh mất bản thân. Hai câu cuối khẳng định lựa chọn sống ẩn dật: chấp nhận ở vị trí thấp, tránh xa danh lợi để giữ sự thanh thản trong tâm hồn với quan niệm “danh lợi bất như nhàn”. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với kết cấu chặt chẽ, ngôn ngữ cô đọng, hàm súc. Hình ảnh thơ giản dị nhưng giàu sức gợi, kết hợp hài hòa giữa tả cảnh và biểu cảm. Việc sử dụng điển tích (Y, Phó; Khổng, Nhan) làm tăng tính trang trọng và chiều sâu tư tưởng. Giọng điệu trầm lắng, suy tư, phù hợp với tâm trạng của một con người từng trải. Tóm lại, bài thơ không chỉ phản ánh tâm trạng của Nguyễn Trãi mà còn thể hiện nhân cách cao đẹp và triết lí sống đáng trân trọng: coi trọng sự thanh nhàn, giữ vững đạo đức giữa cuộc đời nhiều biến động.
Cau 2
Nguyễn Trãi (1380 – 1442) là một vị anh hùng tên tuổi lẫy lừng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, là một con người tài năng kiệt xuất. “Quốc âm thi tập” là một tác phẩm thơ Nôm vô cùng nổi tiếng của Nguyễn Trãi. Bài thơ Cảnh ngày hè là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất trong tập thơ. Bài thơ là nơi mà tác giả đã gửi gắm mọi tư tưởng, tình cảm yêu đời, yêu thiên nhiên và ước vọng cao đẹp của mình
Bài thơ Cảnh ngày hè thể hiện vẻ đẹp độc đáo của bức tranh ngày hè và vẻ đẹp tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đời, yêu nhân dân, đất nước của Nguyễn Trãi. Bài thơ mang vẻ đẹp bình dị, tự nhiên, có sự đan xen câu lục ngôn và bài thơ thất ngôn. Mạch cảm xúc của bài thơ từ thư thái, thanh thản pha sắc thái bất đắc dĩ, có phần chán ngán đến hứng khởi, phấn chấn đó là mạch cảm xúc của Cảnh ngày hè.
Cảnh ngày hè hiện ra thật đẹp, đầy sức sống với những chi tiết cụ thể, sinh động: tán hoè xanh thẫm che rợp, thạch hựu bên hiên nhà còn phun màu đỏ, sen hồng trong ao ngát mùi hương, tiếng lao xao vọng lại từ làng chài, tiếng ve như tiếng đàn vang dội lên. Bức tranh cho thấy sức sống sinh sôi, rạo rực khắp nơi nơi.
Bức tranh ngày hè được hiện lên một cách nhàn tản nhưng vẫn sinh động và đầy sức sống. Cảnh sắc hè trước hết là bóng hòe, màn hòe. Lá hòe xanh thẫm, xanh lục. Cảnh hòe sum sê, um tùm, lá “đùn đùn” lên thành chùm, thành đám xanh tươi, tràn đầy sức sống:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường.
Hòe lục đùn đùn tán rợp trương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
Màu xanh của hòe, đỏ của lựu, sen hồng dưới ao.Tất cả hiện lên rực rỡ, màu sắc có sự hài hòa, tươi thắm. Ba loài cây với ba dáng vẻ khác nhau nhưng tất cả đều có hồn. Thiên nhiên ấy chứa chan bao cảm xúc, lúc dịu nhẹ lan tỏa lúc bừng bừng phun trào. Nguyễn Trãi đã chọn hòe, thạch lựu, sen hồng đưa vào thơ. Sen là biểu tượng cho cảnh sắc mùa hè làng quê ta. Sen trong ao làng đã “tiễn mùi hương” gợi không cảnh làng quê thanh bình, không khí thanh cao thoát tục. Cảnh sắc ấy vô cùng xinh đẹp và bình dị. Nhà thơ đã gắn tâm hồn mình với cảnh vật mùa hè bằng một tình quê đẹp và cảm nhận vẻ đẹp của nó bằng nhiều giác quan.
Giữa khung cảnh thiên nhiên ấy, nhà thơ để lòng mình hòa cùng thiên nhiên đầy sức sống. Nguyễn Trãi không chỉ nhìn bằng mắt mà còn trải lòng mình để lắng nghe âm thanh muôn vẻ của thiên nhiên:
"Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Chợ là hình ảnh thái bình trong tiềm thức của người Việt. Chợ đông vui thì đất nước thái bình thịnh trị, dân giàu đủ.Nhà thơ lắng nghe nhịp sống đời thường ấy với bao niềm vui. “Lao xao” là từ láy tượng thanh gợi tả sự ồn ào, nhộn nhịp Cảnh vật yên vui bởi sự thanh thản đang xâm chiếm tâm hồn nhà thơ.Bức tranh thiên nhiên ấy đã thổi bùng lên trong ông khát vọng cháy bỏng:
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương”
Ngu cầm là cây đàn thần của Thuấn, vua Nghiêu, Thuấn là hai ông vua thời cổ đại Trung Quốc với triều đại lý trị vì lý tưởng nhân dân được sống trong hạnh phúc, thanh bình. Nguyễn Trãi mơ chiếc đàn của vua Thuấn để gảy khúc nam phong cho dân được ấm no hạnh phúc. Câu thơ 6 chữ kết thúc nhấn mạnh niềm ước mơ ấy. Ước mơ rất đỗi bình thường mà vĩ đại, lãng mạn mà thực tế. Nó thể hiện tư tưởng nhân nghĩa của ông. Lý tưởng dân giàu đủ khắp đòi phương của Nguyễn Trãi với hôm nay vẫn còn mang ý nghĩa thẩm mỹ. Câu kết cảm xúc trữ tình được diễn tả bằng một điển tích phản ánh khát vọng cao đẹp của nhà thơ.
Nguyễn Trãi là một con người kiệt xuất của dân tộc ta, cả cuộc đời ông là một cuộc hành trình dài, nhiều gian lao về lý tưởng lo cho dân, cho nước. Công trạng cũng nhiều, ông là người đã có những đóng góp to lớn trong lĩnh vực quân sự và nhiếp chính khi ông còn đương nhiệm làm quan. Một lòng một dạ trung quân, ái quốc, tấm lòng ấy có trời biết, đất biết, cũng rất được công nhận. Tuy nhiên, ông cũng phải chấp nhận lẽ đời mà ông không sao chống lại được. Cũng như bao con người trí thức, có tấm lòng biệt nhỡn liên tài nhưng không được trọng dụng, họ lại tìm đến những thú vui tao nhã điền viên – lâm tuyền để cân bằng lại cho mình những niềm tin, những hy vọng. Nguyễn Trãi cũng vậy, ông sớm nhận ra sự phù du của vòng danh lợi và rồi chọn cuộc sống ẩn dật, lánh đời, tự do tự tại, giúp tâm hồn có những khoảnh khắc thanh thản nhẹ nhàng lạ thường. Tuy nhiên, không phải ông đi lánh đờ là rũ bỏ hết trách nhiệm với đời mà ông vẫn quan tâm đến việc thế sự theo một cách rất riêng biệt.
Bài thơ miêu tả bức tranh ngày hè sinh động và tràn đầy sức sống. Sức sống của sự vật trong trong bức tranh tả cảnh mùa hè cũng thể hiện cảm xúc, niềm yêu đời trong tâm hồn nhà thơ.
Câu 1:
Bài làm
Trong cuốn tiểu thuyết Nhà giả kim, Paul Coelho đã để lại một thông điệp sâu sắc về hành trình trưởng thành của con người qua câu nói: Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần. Hình ảnh ngã bảy lần tượng trưng cho những khó khăn, thất bại và những lần vấp ngã đau đớn mà bất kỳ ai cũng phải đối mặt trên đường đời. Tuy nhiên, điều cốt lõi không nằm ở việc chúng ta ngã bao nhiêu lần, mà nằm ở hành động đứng dậy tám lần. Con số tám lớn hơn bảy chính là biểu tượng cho tinh thần kiên cường, ý chí sắt đá và niềm tin không bao giờ tắt. Thất bại thực chất là một phần tất yếu của thành công, nó giúp chúng ta nhận ra những điểm yếu của bản thân, rèn luyện bản lĩnh và tích lũy những bài học quý giá mà không trường lớp nào dạy được. Nếu chúng ta đầu hàng ngay từ lần ngã đầu tiên, cuộc đời sẽ mãi là một trang giấy trắng không có dấu ấn. Ngược lại, việc dám đối mặt và đứng lên sau mỗi lần vấp ngã giúp con người trở nên mạnh mẽ và vững vàng hơn. Câu nói nhắc nhở mỗi chúng ta rằng bí mật của một cuộc đời rực rỡ không phải là một con đường bằng phẳng, mà là khả năng tự phục hồi và tiếp tục bước đi sau mỗi cơn bão. Hãy luôn giữ cho mình tâm thế của một chiến binh, bởi sau mỗi lần đứng dậy, chúng ta lại tiến gần hơn đến đích đến của cuộc đời mình.
Câu 2:
Bài làm
Nguyễn Trãi không chỉ là một anh hùng dân tộc, một nhà chính trị lỗi lạc mà còn là một hồn thơ tinh tế, luôn tha thiết với thiên nhiên và cuộc đời. Trong tập Quốc âm thi tập, chùm thơ Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) chính là nơi kết tinh những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nhân thế và cốt cách con người. Bài thơ số 33 trong chùm thơ này là một bức tranh tâm cảnh tuyệt đẹp, thể hiện lối sống thanh cao, rời xa danh lợi để tìm về với sự tĩnh lặng của tâm hồn.
Mở đầu bài thơ, tác giả bày tỏ thái độ dứt khoát trước chốn quan trường hiểm hóc. Ông dùng hình ảnh bể triều quan để chỉ con đường công danh vốn nhiều sóng gió, bất trắc. Việc dùng từ ngại cho thấy một sự tỉnh táo, thấu hiểu quy luật của cuộc đời; ông chọn cách lui tới để giữ cho mình một phận an, một cuộc sống thuận theo thời thế mà không bị cuốn vào vòng xoáy tranh giành. Đây không phải là sự trốn tránh trách nhiệm mà là sự lựa chọn lối sống bảo vệ nhân cách trong sạch của một bậc đại phu.
Bốn câu thơ tiếp theo mở ra một không gian sống thanh tĩnh và tràn đầy mỹ cảm. Nguyễn Trãi không còn là vị quan đầu triều đầy quyền lực, mà trở thành một thi sĩ sống hòa quyện cùng cỏ cây. Ông hé cửa đêm chờ hương quế lọt và quét hiên ngày lệ bóng hoa tan. Những hành động ấy tinh tế đến lạ kỳ. Ông trân trọng từng làn hương quế trong đêm, lo sợ cái chổi của mình làm tan đi vẻ đẹp mong manh của bóng hoa rơi trên hiên nhà. Tâm hồn ấy phải nhạy cảm và yêu cuộc đời đến nhường nào mới có thể cảm nhận được những chuyển động khẽ khàng nhất của tạo hóa. Bên cạnh đó, ông vẫn nhắc đến các bậc tiền hiền như Y Doãn, Phó Duyệt hay đạo Khổng, Nhan Hồi để khẳng định rằng dù sống ẩn dật, ông vẫn luôn giữ vững đạo lý, rèn luyện trí tuệ và phẩm giá như các bậc thánh hiền xưa.
Đến hai câu thơ cuối, mạch cảm xúc dồn nén lại trong một lời tổng kết về triết lý sống. Tác giả tự nhủ rằng việc chịu ở vị trí thấp kém, chịu thua thiệt ở đời đôi khi lại là cách để giữ được sự cao khiết. Câu kết danh lợi bất như nhàn chính là lời khẳng định giá trị cuối cùng. Đối với Nguyễn Trãi, mọi vinh hoa phú quý hay danh tiếng hào nhoáng cũng không thể sánh bằng sự thảnh thơi trong tâm hồn. Chữ nhàn ở đây mang ý nghĩa tích cực, đó là sự tự do về tinh thần, là khi con người không còn bị lòng tham và sự đố kỵ trói buộc.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn một cách linh hoạt, tạo nên nhịp điệu lúc khoan lúc nhặt như hơi thở của cuộc sống bình dị. Việc vận dụng khéo léo các điển tích kết hợp với hình ảnh thiên nhiên gần gũi đã làm nên sức hấp dẫn riêng biệt cho thi phẩm.
Bài thơ Bảo kính cảnh giới bài 33 đã cho thấy một góc nhìn nhân văn của Nguyễn Trãi về hạnh phúc. Qua đó, người đọc không chỉ cảm phục tài năng văn chương mà còn thêm trân trọng một nhân cách lớn, một con người luôn biết giữ mình thanh sạch giữa những biến động của cuộc đời. Tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay, nhắc nhở chúng ta về việc tìm kiếm sự bình yên thực sự trong tâm hồn giữa một thế giới đầy rẫy những cám dỗ vật chất.
**Câu 1
Trong cuốn Nhà giả kim, Paulo Coelho đã viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng một triết lí sâu sắc về ý chí và nghị lực của con người. Trong cuộc sống, không ai tránh khỏi thất bại. Những lần “ngã” tượng trưng cho khó khăn, thử thách, thậm chí là những sai lầm. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là ta ngã bao nhiêu lần mà là ta có đủ dũng khí để đứng dậy hay không. Mỗi lần đứng dậy là một lần con người trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn và rút ra được bài học quý giá. Nếu ta dễ dàng bỏ cuộc, thất bại sẽ mãi là dấu chấm hết. Ngược lại, nếu kiên trì vượt qua, thất bại sẽ trở thành bậc thang dẫn đến thành công. Trong học tập cũng như trong cuộc sống, tinh thần không bỏ cuộc chính là chìa khóa giúp ta đạt được ước mơ. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện ý chí, giữ vững niềm tin và không ngại đứng lên sau những lần vấp ngã.
---
**Câu 2
Bài thơ *“Bảo kính cảnh giới”* của Nguyễn Trãi là lời tự răn dạy sâu sắc về cách sống, cách ứng xử của con người trước danh lợi và thời cuộc. Đoạn thơ thể hiện rõ tư tưởng sống thanh cao, coi trọng nhân nghĩa và giữ gìn khí tiết của tác giả.
Trước hết, hai câu đầu nói về thái độ của con người trước vòng danh lợi: “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan / Lui tới đòi thì miễn phần an.” Tác giả bộc lộ sự e ngại, không muốn dấn thân vào chốn quan trường đầy bon chen, tranh đoạt. Việc “lui tới đòi thì” cho thấy lối sống thuận theo thời thế, biết tiến biết lui để giữ sự bình yên. Đó không phải là sự trốn tránh mà là cách lựa chọn con đường phù hợp để bảo toàn nhân cách.
Tiếp theo, hai câu “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt / Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan” gợi lên một cuộc sống thanh nhàn, hòa mình với thiên nhiên. Hình ảnh thơ tinh tế, giàu chất gợi, thể hiện tâm hồn ung dung, an nhiên của tác giả. Dù không màng danh lợi, Nguyễn Trãi vẫn giữ cho mình đời sống tinh thần phong phú, cao đẹp.
Đến hai câu luận, tác giả nhắc đến những tấm gương người tài như Y Doãn, Phó Duyệt và các học thuyết lớn như Nho, Đạo: “Đời dùng người có tài Y, Phó / Nhà ngặt ta bền đạo Khổng, Nhan.” Qua đó, ông khẳng định quan điểm sống: dù hoàn cảnh khó khăn vẫn giữ vững đạo lí, trung thành với nhân nghĩa, không vì lợi ích cá nhân mà đánh mất phẩm chất.
Hai câu kết “Kham hạ hiền xưa toan lẫn được / Ngâm câu: ‘danh lợi bất như nhàn’” chính là sự đúc kết triết lí sống. Tác giả sẵn sàng sống giản dị, chịu ở vị trí thấp để giữ mình trong sạch. Câu thơ cuối khẳng định rõ: danh lợi không thể so sánh với sự thanh nhàn, bình yên trong tâm hồn.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh giàu sức gợi, kết hợp giữa yếu tố trữ tình và triết lí. Giọng điệu nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, thể hiện rõ nhân cách cao đẹp của Nguyễn Trãi.
Như vậy, đoạn thơ không chỉ phản ánh tâm hồn thanh cao của tác giả mà còn gửi gắm bài học ý nghĩa: con người cần biết sống đúng với đạo lí, không chạy theo danh lợi mà đánh mất bản thân.
Câu 1
Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần" – câu nói nổi tiếng trong "Nhà giả kim" đã gửi gắm một thông điệp vô giá về lòng kiên trì. "Ngã" tượng trưng cho những thất bại, những lần ta vấp ngã trước sóng gió cuộc đời. "Đứng dậy" chính là bản lĩnh, là sự vực dậy sau mỗi lần vấp ngã đó. Tại sao lại là "đứng dậy tám lần"? Con số tám lớn hơn số bảy chính là lời khẳng định: dù cuộc đời có quật ngã ta bao nhiêu lần, ta vẫn luôn có thêm một lần nữa để bắt đầu lại. Thất bại không phải là dấu chấm hết, nó là một phần tất yếu của hành trình trưởng thành, giúp ta tích lũy kinh nghiệm và mài sắc ý chí. Người thành công không phải là người không bao giờ ngã, mà là người từ chối việc nằm yên sau khi vấp váp. Đối với thế hệ trẻ, trước những áp lực và kỳ vọng, tinh thần này càng trở nên quan trọng. Đừng sợ hãi những "lần ngã", hãy sợ hãi việc mất đi ý chí "đứng dậy". Mỗi lần đứng lên, chúng ta lại mạnh mẽ hơn, vững vàng hơn trên con đường chinh phục ước mơ của chính mình.
Câu 2
Nguyễn Trãi – người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, đồng thời cũng là một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, tinh tế. Suốt cuộc đời, ông luôn mang trong mình nỗi niềm "Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông" dành cho dân, cho nước. Nhưng cũng có những lúc, người chiến sĩ ấy lại tìm thấy những khoảng lặng bình yên trong tâm hồn qua những vần thơ Nôm giản dị mà sâu sắc. Bài thơ số 33 trong chùm "Bảo kính cảnh giới" chính là bức tranh chân thực về cốt cách thanh cao, triết lý sống "nhàn" giữa dòng đời đầy biến động của Ức Trai.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Trãi trực tiếp bày tỏ quan niệm về cuộc sống và sự lựa chọn của bản thân trước chốn quan trường:
"Rộng khơi ngại vượt bể triều quan,
Lui tới đòi thì miễn phận an."
Cụm từ "bể triều quan" là một hình ảnh ẩn dụ đầy sức gợi, ví von chốn quan trường như một vùng biển rộng đầy sóng gió, bất trắc. Từ "ngại" không phải là sự hèn nhát hay lười biếng, mà đó là thái độ tỉnh táo của một bậc đại trí đã thấu hiểu quy luật thị phi, vinh nhục. Ông chọn cách sống "lui tới đòi thì" – một lối sống tùy duyên, thuận theo thời thế để giữ gìn sự thanh thản trong tâm hồn (miễn phận an). Đây chính là cái gốc của triết lý sống nhàn: không phải là lánh đời, mà là làm chủ bản thân trước những danh lợi phù du.
Khi rũ bỏ được những gánh nặng công danh, tâm hồn thi sĩ trở nên nhạy cảm lạ thường trước vẻ đẹp của tạo hóa:
"Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,
Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan."
Hai câu thơ thực chất là một bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ, được cảm nhận bằng một tâm hồn đang ở trạng thái tĩnh lặng nhất. Nghệ thuật đối lập giữa "đêm" và "ngày", "hé cửa" và "quét hiên" tạo nên một sự hài hòa tuyệt đối. Hình ảnh "hương quế lọt" qua khe cửa ban đêm và "bóng hoa tan" trên sân vào ban ngày gợi lên một không gian thanh sạch, thoát tục. Động từ "chờ" và "lệ" (ngắm nhìn) cho thấy thi nhân không chỉ xem cảnh mà đang giao hòa, đang nâng niu từng bước đi của thời gian và vẻ đẹp mong manh của tạo hóa. Nguyễn Trãi không cần những cảnh tượng kỳ vĩ, ông tìm thấy niềm vui trong những điều bình dị nhất, biến cái sinh hoạt đời thường thành một nghệ thuật sống cao quý.
Tuy nhiên, đằng sau cái vẻ ngoài nhàn tản ấy vẫn là một trái tim luôn đau đáu vì nghĩa lớn:
"Đời dùng người có tài Y, Phó,
Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan."
Đây chính là nét đặc sắc trong tư tưởng của Nguyễn Trãi: nhàn thân nhưng không nhàn tâm. Ông vẫn hằng mong ước có những bậc hiền tài như Y Doãn, Phó Duyệt xuất hiện để phò vua giúp nước. Nhưng trong hoàn cảnh "nhà ngặt" (nghèo khó, thanh bạch), ông lại chọn lấy cái đức của Khổng Tử, Nhan Hồi làm kim chỉ nam. Sự kiên trì với "đạo" chính là sự khẳng định nhân cách của người quân tử: dù hoàn cảnh có khó khăn, dù sống trong bóng tối hay ngoài ánh sáng, lòng trung hiếu và đạo đức vẫn luôn vẹn nguyên.
Kết thúc bài thơ là một lời tự răn mình đầy sâu sắc:
"Kham hạ hiển xưa toan lẫn được,
Ngâm câu: “danh lợi bất như nhàn”."
Tác giả nhìn nhận lại những kẻ xưa nay mải mê theo đuổi sự "hiển" (vinh hiển) mà quên mất bản tâm, để rồi rút ra kết luận: "danh lợi bất như nhàn". Chữ "Nhàn" ở đây đã được nâng lên thành một hệ giá trị sống. Đó là sự tự do tự tại, là khi con người không còn bị những sợi dây danh lợi trói buộc, được sống thực với chính mình và thiên nhiên.
Về phương diện nghệ thuật, bài thơ là một mẫu mực của thơ Nôm Đường luật cách tân. Việc xen kẽ các câu lục ngôn (6 chữ) vào chỉnh thể thất ngôn (7 chữ) không chỉ làm thay đổi nhịp điệu, khiến câu thơ trở nên linh hoạt, mang đậm hơi thở của lời ăn tiếng nói dân gian mà còn nhấn mạnh vào những ý thơ quan trọng. Ngôn ngữ thơ vừa hàm súc, giàu tính ước lệ của văn chương bác học, vừa bình dị, gần gũi.
Tóm lại, bài thơ số 33 trong Bảo kính cảnh giới không chỉ là một bức tranh thiên nhiên đẹp, mà còn là bản tuyên ngôn về lẽ sống của một vĩ nhân. Nguyễn Trãi đã dạy cho chúng ta rằng: hạnh phúc đích thực không nằm ở tiền tài hay địa vị, mà nằm ở sự thanh cao của nhân cách và sự giao hòa trọn vẹn với cuộc đời. Bài thơ mãi là một "chiếc gương báu" sáng trong để hậu thế soi mình và học tập.
Câu 1 (khoảng 200 chữ):
Trong cuốn Nhà giả kim, Paul Coelho viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần”. Câu nói nhấn mạnh vai trò của ý chí và nghị lực trong cuộc sống. Thất bại là điều không thể tránh khỏi trên hành trình trưởng thành của mỗi người. Điều quan trọng không phải là ta ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần vấp ngã, ta có đủ dũng khí để đứng dậy và bước tiếp hay không. Những người thành công thường không phải là người chưa từng thất bại, mà là người biết biến thất bại thành bài học quý giá. Trong học tập, có thể ta từng điểm kém, từng chán nản, nhưng nếu kiên trì cố gắng, chắc chắn sẽ tiến bộ. Trong cuộc sống cũng vậy, khó khăn chính là thử thách giúp ta rèn luyện bản thân. Tuy nhiên, đứng dậy không có nghĩa là cố chấp, mà cần rút kinh nghiệm để thay đổi cho phù hợp. Câu nói của Paul Coelho vì thế mang ý nghĩa sâu sắc: hãy kiên cường, không bỏ cuộc trước nghịch cảnh, bởi thành công chỉ đến với những ai biết đứng lên sau thất bại.
Câu 2 (khoảng 400 chữ):
Bài thơ Bảo kính cảnh giới (Bài 33) của Nguyễn Trãi thể hiện tư tưởng sống thanh cao, an nhàn và thái độ coi nhẹ danh lợi của tác giả. Mở đầu bài thơ là hình ảnh đối lập: “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan / Lui tới đời thì miễn phận an”. Nguyễn Trãi bộc lộ thái độ không màng công danh nơi chốn quan trường đầy sóng gió, lựa chọn lối sống thuận theo tự nhiên, giữ sự bình yên cho tâm hồn. Hai câu tiếp theo gợi lên không gian tĩnh lặng, thanh khiết: “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt / Quét hiên ngày lẻ bóng hoa tan”. Cảnh vật được cảm nhận tinh tế qua hương, qua bóng, thể hiện tâm hồn nhạy cảm và gắn bó với thiên nhiên của nhà thơ.
Ở hai câu luận, tác giả khẳng định quan niệm sống: “Đời dùng người có tài Y, Phó / Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan”. Ông ý thức rõ tài năng của mình nhưng không vì thế mà chạy theo danh lợi. Trong hoàn cảnh khó khăn, ông vẫn giữ vững đạo lý, nhân cách cao đẹp. Hai câu kết “Kham hạ hiền xưa toan lẫn được / Ngẫm câu: ‘danh lợi bất như nhàn’” đã khái quát triết lí sống của toàn bài: danh lợi không bằng sự nhàn tản, thanh thản trong tâm hồn.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ, ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh. Biện pháp đối được vận dụng linh hoạt, tạo nên sự cân xứng và nhịp điệu cho bài thơ. Hình ảnh thiên nhiên giản dị mà gợi cảm, vừa tả cảnh vừa ngụ tình.
Tóm lại, bài thơ thể hiện nhân cách cao đẹp và triết lí sống sâu sắc của Nguyễn Trãi: coi nhẹ danh lợi, hướng tới cuộc sống thanh cao, hòa hợp với thiên nhiên. Đây cũng là bài học ý nghĩa cho con người hôm nay trong việc lựa chọn lối sống đúng đắn.
- Tính trực diện: Nhan đề thường tập trung vào từ khóa chính là "Sao Barnard" và những phát hiện mới.
- Tính thu hút: Cách đặt nhan đề trong các bài báo khoa học phổ thông thường khơi gợi sự tò mò về một thực thể vũ trụ "láng giềng" nhưng còn nhiều bí ẩn.
Câu 4: Phương tiện phi ngôn ngữCâu 1
Hình ảnh "ngã" tượng trưng cho những thất bại, va vấp và những lúc bản thân rơi vào tuyệt vọng trước nghịch cảnh. Ngược lại, hành động "đứng dậy" chính là biểu tượng của lòng dũng cảm và ý chí tái sinh. Tại sao lại là "ngã bảy" nhưng phải "đứng dậy tám"? Con số "tám" ở đây mang hàm ý về sự khởi đầu mới ngay cả khi ta tưởng chừng đã cạn kiệt sức lực; nó khẳng định rằng chỉ cần bạn không bỏ cuộc, thất bại chỉ là một nấc thang để tiến tới thành công.
Câu 2
Bản tuyên ngôn về lẽ sống thanh cao và bản lĩnh của Ức Trai được thể hiện sâu sắc qua bài thơ Bảo kính cảnh giới (bài 33). Tác phẩm không chỉ là một bức tranh thiên nhiên tĩnh lặng mà còn là tấm gương soi chiếu nội tâm của một nhân cách lớn trước những biến động của thời cuộc.
Về nội dung, bài thơ mở đầu bằng một tâm thế tự tại: "Rộng khơi ngại vượt bể triều quan / Lui tới đòi thì miễn phận an". Hai chữ "ngại" và "miễn" cho thấy thái độ thấu hiểu sự đời, không còn mặn mà với chốn quan trường đầy rẫy hiểm nguy ("bể triều"). Ông chọn cách lui về, sống thuận theo tự nhiên và bằng lòng với số phận. Tâm hồn nghệ sĩ của Nguyễn Trãi được khắc họa tinh tế qua những chi tiết "hương quế lọt" và "bóng hoa tan". Đó là sự giao hòa tuyệt đối với thiên nhiên, một tâm hồn nhạy cảm, biết trân trọng từng khoảnh khắc phù du của cái đẹp.
Đặc biệt, tư tưởng của tác giả được khẳng định mạnh mẽ ở phần kết. Dù thời thế cần những bậc tài năng như Y Doãn, Phó Thuyết ("tài Y, Phó") để giúp nước, nhưng trong cảnh ngộ riêng đầy khó khăn ("nhà ngặt"), ông vẫn giữ vững đạo đức của Khổng Tử và Nhan Hồi ("đạo Khống, Nhan"). Đây là sự khẳng định về khí tiết của một nhà nho chân chính: "nghèo cho sạch, rách cho thơm". Câu thơ kết "Danh lợi bất như nhàn" không phải là sự buông xuôi, mà là lựa chọn sống nhàn trong tâm tưởng, coi nhẹ danh lợi để giữ trọn thiên lương.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thất ngôn xen lục ngôn – một đặc trưng sáng tạo của Nguyễn Trãi giúp câu thơ trở nên linh hoạt, mang âm hưởng trắc trở như chính cuộc đời ông. Ngôn ngữ thơ kết hợp nhuần nhuyễn giữa những điển tích điển cố trang trọng (Y, Phó, Khống, Nhan) với những từ ngữ thuần Việt giản dị, giàu sức biểu cảm (ngại, đòi thì, ngặt, bền). Cách sử dụng phép đối ở hai câu thực và luận không chỉ tạo sự cân xứng cho bài thơ mà còn làm nổi bật sự đối lập giữa cái náo nhiệt của danh lợi và cái thanh tịnh của tâm hồn.
Vì vậy , Bảo kính cảnh giới (bài 33) là một minh chứng cho vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi: một con người vừa có tâm hồn nhạy cảm trước thiên nhiên, vừa có bản lĩnh kiên cường giữ gìn đạo đức trước những cám dỗ và nghịch cảnh của đời sống.
Câu 1:
Trong cuốn Nhà giả kim, Paulo Coelho cho rằng: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói nhấn mạnh ý nghĩa của sự kiên trì trong cuộc sống. Thất bại là điều không thể tránh khỏi, nhưng điều quan trọng là cách con người đối diện với nó. Mỗi lần vấp ngã không phải là dấu chấm hết, mà là cơ hội để ta học hỏi, rút kinh nghiệm và trưởng thành hơn. Người thành công không phải là người chưa từng thất bại, mà là người không bỏ cuộc sau thất bại. Trong thực tế, rất nhiều tấm gương đã chứng minh điều đó: họ từng gặp khó khăn, thậm chí thất bại nhiều lần, nhưng nhờ ý chí và nghị lực, họ đã vươn lên đạt được mục tiêu. Đối với học sinh, khi gặp điểm kém hay khó khăn trong học tập, thay vì chán nản, cần nỗ lực hơn để cải thiện bản thân. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tinh thần bền bỉ, dám đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã để tiến gần hơn tới thành công.
Câu 2 :
Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” (Bài 33) của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc quan niệm sống và nhân sinh của tác giả. Trước hết, về nội dung, bài thơ bộc lộ thái độ coi nhẹ danh lợi, quyền quý. Hai câu đầu cho thấy sự đối lập giữa “rộng khơi” đầy nguy hiểm của chốn quan trường và “đòi thì miễn phận an” – một cuộc sống bình yên, thanh thản. Nguyễn Trãi nhận ra rằng nơi quyền lực thường tiềm ẩn nhiều sóng gió, nên lựa chọn lối sống ẩn dật để giữ gìn nhân cách. Hai câu tiếp sử dụng hình ảnh giàu tính biểu tượng như “hương quế”, “bóng hoa tan” nhằm gợi sự phù du, mong manh của cuộc đời. Từ đó, tác giả càng thêm thức tỉnh về giá trị thực sự của cuộc sống.
Ở hai câu luận, Nguyễn Trãi nhắc đến “Y, Phó” – những bậc hiền tài trong lịch sử, qua đó khẳng định lý tưởng đề cao người có đức, có tài. Tuy nhiên, ông lại lựa chọn “bên đạo Khổng, Nhan”, thể hiện sự hướng về đạo lí, nhân nghĩa hơn là danh lợi. Hai câu kết khép lại bằng nỗi niềm suy ngẫm: người hiền tài nhiều khi phải “kham hạ”, chịu thiệt thòi trong xã hội, khiến tác giả càng thấm thía chân lí “danh lợi bất như nhàn”. Đây chính là triết lí sống cao đẹp: coi trọng sự thanh cao, an nhiên hơn những giá trị vật chất phù phiếm.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ, ngôn ngữ cô đọng, hàm súc. Hình ảnh mang tính ước lệ, giàu ý nghĩa biểu tượng, kết hợp với các điển tích (Y, Phó; Khổng, Nhan) làm tăng chiều sâu tư tưởng. Giọng điệu trầm lắng, suy tư giúp bộc lộ rõ tâm trạng và triết lí của tác giả.
Tóm lại, bài thơ không chỉ phản ánh nhân cách thanh cao của Nguyễn Trãi mà còn gửi gắm bài học sâu sắc về lối sống: biết buông bỏ danh lợi để giữ gìn phẩm giá và sự bình yên trong tâm hồn.
Câu 1
Câu nói: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” gợi ra một bài học sâu sắc về nghị lực và ý chí con người. Trong cuộc sống, thất bại là điều không thể tránh khỏi, nhưng điều quan trọng không phải là ta ngã bao nhiêu lần mà là ta có đủ dũng khí để đứng dậy hay không. “Ngã” tượng trưng cho những khó khăn, thử thách, còn “đứng dậy” thể hiện tinh thần kiên trì, không bỏ cuộc. Người biết đứng lên sau thất bại sẽ trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn và tiến gần hơn đến thành công. Thực tế cho thấy nhiều người thành công đều từng trải qua vô số lần thất bại, nhưng họ không chùn bước mà luôn nỗ lực vươn lên. Ngược lại, nếu chỉ vì một vài lần vấp ngã mà bỏ cuộc, con người sẽ đánh mất cơ hội phát triển bản thân. Vì vậy, mỗi chúng ta cần rèn luyện ý chí, giữ vững niềm tin và học cách đứng dậy sau mỗi lần thất bại. Đó chính là chìa khóa giúp ta chinh phục cuộc sống và khẳng định giá trị của bản thân
Câu 2
Bài thơ Bảo kính cảnh giới (Bài 33) của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc quan niệm sống thanh cao, an nhàn và giữ vững đạo lí của một bậc hiền nhân sau những biến động cuộc đời. Trước hết, bài thơ khắc họa lối sống ẩn dật, tránh xa danh lợi. Hai câu đầu cho thấy thái độ dứt khoát của tác giả trước chốn quan trường: “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan / Lui tới đòi thì miễn phận an”. Nguyễn Trãi ý thức rõ sự phức tạp, hiểm nguy của chốn quyền lực nên chọn cách lui về, giữ cho mình cuộc sống bình yên. Đây không phải là sự trốn tránh mà là lựa chọn có ý thức, thể hiện nhân cách thanh cao. Hai câu tiếp theo mở ra bức tranh thiên nhiên thanh nhã: “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt / Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan”. Không gian sống giản dị nhưng đầy thi vị, con người hòa mình với thiên nhiên, tận hưởng vẻ đẹp tinh tế của cuộc sống. Qua đó, ta thấy được tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên và hướng đến sự thanh tịnh của tác giả. Ở hai câu luận, Nguyễn Trãi bày tỏ quan niệm về tài năng và đạo đức: “Đời dùng người có tài Y, Phó / Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan”. Ông thừa nhận xã hội cần người tài, nhưng bản thân vẫn kiên định với đạo lí Nho gia, giữ trọn nhân cách dù hoàn cảnh khó khăn. Điều này thể hiện bản lĩnh và khí tiết của một người trí thức chân chính. Hai câu kết khẳng định triết lí sống: “Ngâm câu: ‘danh lợi bất như nhàn’”. Với Nguyễn Trãi, danh lợi không thể so sánh với sự an nhàn, thanh thản trong tâm hồn. Đây là kết tinh của một quá trình trải nghiệm, chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ cô đọng, hàm súc; hình ảnh giản dị mà giàu sức gợi; kết hợp giữa yếu tố trữ tình và triết lí. Giọng điệu điềm đạm, sâu lắng góp phần thể hiện rõ phong thái ung dung, tự tại của tác giả. Tóm lại, bài thơ không chỉ thể hiện tâm hồn thanh cao của Nguyễn Trãi mà còn gửi gắm một bài học ý nghĩa: biết buông bỏ danh lợi, giữ vững đạo đức và tìm kiếm sự bình yên trong tâm hồn mới là giá trị bền vững của cuộc sống.
Câu 1
Trong cuốn Nhà giả kim, Paulo Coelho từng viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói gửi gắm một thông điệp sâu sắc về ý chí và nghị lực của con người. Trong hành trình sống, thất bại là điều không thể tránh khỏi. Điều quan trọng không phải là ta vấp ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần đó, ta có đủ dũng khí để đứng lên hay không. Mỗi lần đứng dậy là một lần con người trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn và hiểu rõ bản thân mình hơn. Đối với giới trẻ, tinh thần này càng có ý nghĩa, bởi tuổi trẻ là quãng thời gian dám thử, dám sai và dám sửa. Tuy nhiên, “đứng dậy” không chỉ là tiếp tục, mà còn là biết rút kinh nghiệm để tiến lên đúng hướng. Nếu chỉ lặp lại sai lầm mà không thay đổi, thất bại sẽ trở nên vô nghĩa. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện bản lĩnh, kiên trì và niềm tin vào bản thân. Khi không bỏ cuộc, chúng ta mới có cơ hội chạm đến thành công và ý nghĩa thực sự của cuộc sống.
Câu 2
Bài thơ Bảo kính cảnh giới (Bài 33) của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc tư tưởng sống thanh cao, coi trọng nhân cách và sự nhàn tĩnh của tác giả.
Trước hết, bài thơ bộc lộ thái độ của Nguyễn Trãi trước chốn quan trường. Câu thơ mở đầu cho thấy ông không còn thiết tha với việc làm quan, “ngại vượt bể triều quan”, lựa chọn “lui tới đòi thì miễn phận an”. Đó không phải là sự trốn tránh, mà là một cách ứng xử khôn ngoan của bậc trí thức trước thời cuộc rối ren. Ông chọn cách sống thuận theo thời thế nhưng vẫn giữ được sự bình yên trong tâm hồn.
Bức tranh sinh hoạt đời thường hiện lên qua những câu thơ tiếp theo thật giản dị mà thanh tao: “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt/ Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan”. Những hình ảnh như hương quế, bóng hoa gợi nên một không gian yên tĩnh, gần gũi với thiên nhiên. Qua đó, ta thấy một Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên, tìm thấy niềm vui trong những điều bình dị của cuộc sống.
Không chỉ vậy, bài thơ còn thể hiện quan niệm sống và nhân cách cao đẹp của tác giả. Ông ý thức rõ giá trị của người tài trong xã hội: “Đời dùng người có tài Y, Phó”. Nhưng trong hoàn cảnh “nhà ngặt”, ông vẫn giữ vững đạo lý Nho gia: “ta bền đạo Khổng, Nhan”. Điều này cho thấy sự kiên định, không vì hoàn cảnh mà đánh mất phẩm chất.
Hai câu thơ cuối khẳng định lựa chọn sống của Nguyễn Trãi: chấp nhận ở vị trí khiêm nhường, tránh xa danh lợi để giữ sự thanh thản: “danh lợi bất như nhàn”. Đây chính là triết lý sống mang đậm tinh thần nhân văn, đề cao giá trị tinh thần hơn vật chất.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với ngôn ngữ cô đọng, hàm súc. Hình ảnh thơ giàu tính gợi, kết hợp giữa tả cảnh và biểu đạt tâm trạng. Các điển tích được sử dụng tinh tế, góp phần thể hiện chiều sâu tư tưởng.
Như vậy, Bảo kính cảnh giới (Bài 33) không chỉ là bức tranh đời sống thanh nhàn mà còn là lời tự răn sâu sắc về cách sống của một bậc hiền nhân: giữ trọn nhân cách, sống thanh cao giữa cuộc đời nhiều biến động.
Câu 1 :
Câu nói của Paul Coelho: "Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần" là một thông điệp sâu sắc về tinh thần kiên trì và bản lĩnh trước nghịch cảnh. Trong đời người, "ngã" đại diện cho những thất bại, sai lầm hay khó khăn tất yếu; còn "đứng dậy" chính là biểu tượng của ý chí, lòng can đảm để bắt đầu lại. Con số "tám lần" lớn hơn "bảy lần" khẳng định một chân lý: dù vấp ngã bao nhiêu lần, điều quan trọng nhất là ta phải nỗ lực đứng lên thêm một lần nữa. Thất bại không phải là dấu chấm hết mà là những nấc thang trải nghiệm giúp con người trưởng thành và vững vàng hơn. Nếu không có những lần vấp ngã, chúng ta khó lòng thấu hiểu giá trị của thành công hay khám phá được giới hạn sức mạnh của bản thân. Tuy nhiên, đứng dậy không đồng nghĩa với việc mù quáng lặp lại sai lầm, mà cần sự đúc rút kinh nghiệm để bước tiếp khôn ngoan hơn. Tóm lại, thành công không dành cho kẻ chưa bao giờ thất bại, mà dành cho những người không bao giờ bỏ cuộc. Hãy luôn giữ vững niềm tin, vì sau mỗi lần đứng dậy, chúng ta lại mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Câu 2:
Bài thơ là bức chân dung tâm hồn của Nguyễn Trãi trong những ngày lui về ở ẩn, thể hiện quan niệm sống thanh cao và trọng đạo nghĩa.- Sự lựa chọn lối sống rời xa danh lợi: Hai câu đầu thể hiện sự dứt khoát thoát khỏi vòng vây của chốn quan trường ("vượt bể triều quan"). Tác giả chấp nhận cuộc sống bình dị, thuận theo tự nhiên và hoàn cảnh ("miễn phận an").
- Cuộc sống hòa mình với thiên nhiên:Những câu tiếp theo gợi lên không gian sống tĩnh lặng, tinh tế. Nhà thơ cảm nhận hương quế đêm khuya, quét hiên ngắm bóng hoa tan. Điều này cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, dù ở ẩn nhưng không "lạnh lẽo" mà luôn đầy ắp tình yêu thiên nhiên.
- Giữ vững cốt cách người quân tử: Tác giả khẳng định dù thế sự đổi thay, ông vẫn bền lòng với đạo đức của người xưa ("đạo Khổng, Nhan"), không màng so sánh tài năng với những bậc công thần như Y Doãn, Phó Duyệt.
- Triết lý sống "Nhàn": Câu kết "danh lợi bất như nhàn" là tư tưởng cốt lõi. Với Nguyễn Trãi, sự thong dong, tự tại trong tâm hồn có giá trị cao hơn mọi vinh hoa phú quý ở đời.
2. Về nghệ thuật Nguyễn Trãi đã có những sáng tạo độc đáo để Việt hóa thể thơ Đường luật:C1
Câu nói của Paul Coelho: "Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần" gửi gắm bài học sâu sắc về bản lĩnh và sự kiên trì. Trong cuộc sống, "ngã" chính là những thất bại, khó khăn hay sai lầm mà ai cũng phải trải qua. Tuy nhiên, giá trị con người không nằm ở chỗ chưa bao giờ thất bại, mà nằm ở khả năng "đứng dậy" sau mỗi lần vấp ngã. Việc đứng dậy nhiều hơn số lần ngã một lần biểu trưng cho tinh thần bất khuất, quyết tâm đi đến cùng mục tiêu. Khi đối mặt với nghịch cảnh, sự kiên trì giúp ta tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện ý chí và biến những bài học đau đớn thành hành trang quý giá. Ngược lại, nếu chỉ biết gục ngã và bỏ cuộc, chúng ta sẽ mãi sống trong sợ hãi và đánh mất cơ hội thành công. Mỗi lần đứng dậy là một lần ta mạnh mẽ hơn, trưởng thành hơn. Vì vậy, hãy coi thất bại là một phần tất yếu của hành trình và luôn giữ vững niềm tin để tiếp tục bước về phía trước.
C2
Bài thơ số 33 trong "Bảo kính cảnh giới" là bức tranh tâm cảnh về lối sống thanh cao và tấm lòng ưu ái với đời của Nguyễn Trãi. Mở đầu, tác giả thể hiện thái độ dứt khoát với chốn quan trường: "Rộng khơi ngại vượt bể triều quan / Lui tới đòi thì miễn phận an". "Bể triều quan" đầy sóng gió khiến ông cảm thấy "ngại" bước tới. Ông chọn cách sống thuận theo thời thế ("đòi thì"), tìm sự bình yên ("miễn phận an") để giữ gìn nhân cách. Cuộc sống ẩn dật hiện lên đầy tinh tế qua các hình ảnh: "Hé cửa đêm chờ hương quế lọt / Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan". Sự trân trọng hương thơm và nỗi lo sợ ("lệ") bóng hoa tàn phai cho thấy một tâm hồn yêu thiên nhiên sâu sắc, nhạy cảm với cái đẹp. Dù sống nhàn, lòng ông vẫn đau đáu việc nước: "Đời dùng người có tài Y, Phó / Nhà ngặt ta bến đạo Khổng, Nhan". Ông mong mỏi đất nước có người tài như Y Doãn, Phó Duyệt và luôn giữ vững đạo đức theo gương Khổng, Nhan. Thậm chí, ông sẵn sàng "kham hạ" (chịu ở vị trí thấp) để mong tìm được người hiền tài giúp dân. Câu kết "danh lợi bất như nhàn" khẳng định triết lý sống: sự thanh thản trong tâm hồn quý giá hơn mọi vinh hoa phú quý. Về nghệ thuật, thể thơ thất ngôn xen lục ngôn cùng các từ cổ ("đòi thì", "kham hạ") đã làm nổi bật vẻ đẹp tư tưởng của một bậc đại trí, đại nhân. Bài thơ là bài học quý báu về cách giữ mình giữa vòng danh lợi.
Câu 1 :
Trong cuốn ''Nhà giả kim, Nhà giả kim lũ Paulo Coelho đã viết : bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần". Câu nói gọi lên một bài học sâu sắc và ý chí và nghị lực của con người trong cuộc sống. Thực tế cho thấy không ai có thể tránh khỏi những thất bại vấp ngã trên con đường đi đến thành công. Điều quan trọng không phải là ta ngã bao nhiêu lần, mà là sao mỗi lần vấp ngã, ta có đủ Dũng khí để đứng dậy hay không. Mỗi lần thất bại chính là một bài học quý giá giúp ta trưởng thành hơn, hiểu rõ bản thân và rút kinh nghiệm để tiến lên,. Nếu con người dễ dàng bỏ cuộc, họ sẽ không bao giờ đạt được mục tiêu của mình. Ngược lại những ai kiên trì , bền bỉ vượt qua khó khăn sẽ chạm tới thành công và khẳng định giá trị bản thân. Vì vậy, mỗi chúng ta cần rèn luyện ý chí giữ vững niềm tin và không ngừng nỗ lực trước mọi thử thách của cuộc sống.
Câu 2 :
Trong nền văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc mà còn là một nhà thơ lớn với tâm hồn thanh cao, giàu suy tư. Thơ ông thường gửi gắm những triết lý sâu sắc về cuộc đời, đặc biệt là quan niệm sống của một con người từng trải qua nhiều biến cố lịch sử. Bài thơ Bảo cảnh cảnh giới là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ nét tư tưởng ấy. Qua bài thơ, Nguyễn Trãi bộc lộ thái độ sống ung dung, coi nhà danh lợi và đề cao đời sống tinh thần thanh nhàn, từ đó gọi đến người đọc những bài học ý nghĩa nhân văn.
Trước hết, bài thơ cho thấy lựa chọn sống ung dung, thoát khỏi vòng danh lợi của Nguyễn Trãi. Hình ảnh "lui tới đồi thì miễn vẫn an" gợi lên cuộc sống hòa mình với thiên nhiên, giản dị mà thanh thản. Đó không phải là sự trốn tránh thực tại mà là cách nhà thơ chủ động tìm đến sự bình yên sau những biến động của cuộc đời. Đồng thời, qua câu thơ "quét hiên ngày lễ bóng hoa tan", tác giả kín đáo bộc lộ nhận thức về sự phù du của bên hoa phú quý. Những hình ảnh giàu mang tính biểu tượng đã nhấn mạnh rằng danh lợi chỉ là nhất thời, dễ tan biến như bóng hoa.
Không dừng lại ở đó ,bài thơ còn thể hiện quan niệm sống đời cao đạo lý và nhân cách. Nguyễn Trãi nhắc đến "khổng, Nhan" như những tấm gương về lối sống thanh cao, coi trọng đạo nghĩa hơn vật chất. Qua đó ông khẳng định lựa chọn đúng về những giá trị bền vững của tinh thần. Đặc biệt câu kết "danh lợi bất như nhàn" chính là triết lý sống sâu sắc : danh vọng và lợi lộc không để sánh bằng sự thanh nhàn trong tâm hồn. Đây vừa là sự chiêm nghiệm cá nhân, vừa là lời nhắn gửi qua ý nghĩa cho mọi thời đại.
Và nghệ thuật, bài thơ mang đậm đặc trưng của thơ đường luật với kết cấu chặt chẽ, ngôn ngữ cô động, hàm xúc. Các hình ảnh "đồi thì"," bóng hoa"được sử dụng tinh tế, có phần thể hiện rõ tư tưởng của tác giả. Đồng thời, sự đối lập giữa danh lợi và nhan tản được xây dựng nổi bật, góp phần làm tăng sự thuyết phục cho quan niệm sống mà Nguyễn Trãi gửi gắm. Giọng điệu trầm tĩnh, suy tư cũng đóng góp phần tạo nên chiều sâu triết lý cho bài thơ
Như vậy bảo kính cảnh giới không chỉ là lời tựa bài của Nguyễn Trãi mà còn là một bài học ý nghĩa về cách sống . Qua đó, mỗi người có thể rút ra cho mình bài học : biết buông bỏ những giá trị phù phiếm hướng tới đời sống tinh thần và giữ gìn nhân cách để thấy sự bình yên và ý nghĩa đích thực của cuộc đời.
Câu 1 (khoảng 200 chữ):
Trong cuốn “Nhà giả kim”, Nhà giả kim, Paulo Coelho viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói gửi gắm một thông điệp sâu sắc về ý chí và nghị lực của con người. Trong cuộc sống, thất bại là điều không thể tránh khỏi. Không ai có thể thành công ngay từ lần đầu tiên, mà đều phải trải qua những lần vấp ngã. Điều quan trọng không phải là ta đã thất bại bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần đó, ta có đủ dũng khí để đứng dậy hay không. Việc “đứng dậy tám lần” thể hiện tinh thần kiên trì, không bỏ cuộc, luôn tiến về phía trước. Chính nghị lực ấy giúp con người trưởng thành, tích lũy kinh nghiệm và tiến gần hơn đến thành công. Ngược lại, nếu chỉ vì một vài lần thất bại mà nản lòng, buông xuôi, ta sẽ mãi dậm chân tại chỗ. Là học sinh, chúng ta cần rèn luyện ý chí, không ngại khó khăn trong học tập và cuộc sống. Câu nói của Paulo Coelho là lời nhắc nhở mỗi người hãy mạnh mẽ, kiên cường để vượt qua thử thách và làm chủ cuộc đời mình.
Câu 2 (khoảng 400 chữ):
Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” (Bài 33) của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc tâm hồn thanh cao cùng quan niệm sống của một bậc hiền nhân khi lui về ở ẩn. Trước hết, bài thơ khắc họa hoàn cảnh và tâm thế của tác giả khi rời xa chốn quan trường. Hai câu đầu cho thấy sự lựa chọn sống an nhàn, thuận theo thời thế: khi không thể “vượt bể triều quan”, tác giả chọn “miễn phận an”. Đó không phải là thái độ trốn tránh, mà là cách giữ gìn nhân cách trong hoàn cảnh không thuận lợi.
Hai câu thực mở ra bức tranh thiên nhiên thanh tĩnh, giàu chất thơ: “hương quế”, “bóng hoa” gợi không gian yên bình, nhẹ nhàng. Qua đó, ta thấy được tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi. Cuộc sống ẩn dật không hề buồn tẻ mà trở nên thi vị, giúp con người tìm thấy sự thanh thản trong tâm hồn.
Đến hai câu luận, tác giả bộc lộ rõ quan niệm sống và nhân cách. Ông ý thức được rằng xã hội luôn cần người tài như Y Doãn, Phó Duyệt, nhưng trong hoàn cảnh “nhà ngặt”, ông vẫn kiên định giữ “đạo Khổng, Nhan” – tức là giữ vững đạo đức, lý tưởng của người quân tử. Điều này thể hiện phẩm chất cao đẹp: dù không được trọng dụng, ông vẫn không từ bỏ đạo lý.
Hai câu kết khẳng định lựa chọn sống nhàn là con đường đúng đắn: “danh lợi bất như nhàn”. Đó là sự buông bỏ danh lợi để giữ lấy sự thanh cao, tự do trong tâm hồn. Quan niệm này không phải là tiêu cực, mà là sự thức tỉnh trước vòng xoáy danh lợi đầy cám dỗ.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ, ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh và điển tích (Y, Phó; Khổng, Nhan). Giọng điệu trầm tĩnh, suy tư góp phần thể hiện rõ chiều sâu tư tưởng.
Tóm lại, bài thơ không chỉ phản ánh tâm trạng của Nguyễn Trãi mà còn gửi gắm triết lí sống sâu sắc: biết buông bỏ danh lợi, giữ gìn nhân cách và tìm về sự thanh thản trong tâm hồn.
Câu 1
Câu nói của Paul Coelho trong Nhà giả kim: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc về ý chí và nghị lực. Trong cuộc sống, không ai tránh khỏi thất bại hay khó khăn. Những lần “ngã” chính là những thử thách, những sai lầm mà ta gặp phải trên hành trình trưởng thành. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là ta đã vấp ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần như vậy, ta có đủ dũng khí để đứng dậy hay không. “Đứng dậy tám lần” thể hiện tinh thần kiên cường, không bỏ cuộc, luôn tin vào bản thân và hướng tới phía trước. Người có ý chí sẽ xem thất bại là bài học quý giá, từ đó hoàn thiện mình hơn. Ngược lại, nếu dễ dàng chấp nhận thất bại, con người sẽ đánh mất cơ hội phát triển. Là học sinh, chúng ta cần rèn luyện tinh thần vượt khó, kiên trì trong học tập và cuộc sống. Chỉ khi biết đứng lên sau vấp ngã, ta mới có thể chạm tới thành công và sống một cuộc đời ý nghĩa.
Câu 2
Bài thơ Bảo kính cảnh giới (Bài 33) của Nguyễn Trãi thể hiện rõ tư tưởng sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi và hướng tới sự an nhiên của tác giả. Trước hết, nội dung bài thơ bộc lộ quan niệm sống ung dung, tự tại. Hai câu đầu “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan / Lui tới dồi thì miễn phận an” cho thấy tác giả không màng bon chen chốn quan trường, lựa chọn lối sống lánh đục về trong. Những hình ảnh như “hé cửa đêm chờ hương quế lọt”, “quét hiên ngày lặng bóng hoa tan” gợi nên một cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, đầy chất thơ và thanh tịnh. Qua đó, Nguyễn Trãi bộc lộ tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên và khao khát sự bình yên. Bên cạnh đó, bài thơ còn thể hiện thái độ coi nhẹ công danh, phú quý. Tác giả nhắc đến “người có tài Y, Phó” nhưng không vì thế mà chạy theo danh lợi. Ông lựa chọn “đạo Khổng, Nhan”, tức là hướng tới lối sống đạo đức, giữ gìn nhân cách thanh cao. Đặc biệt, câu kết “danh lợi bất như nhàn” khẳng định triết lí sống sâu sắc: danh vọng và lợi lộc không quý bằng sự nhàn tản, thanh thản trong tâm hồn. Đây là quan niệm sống tiến bộ, thể hiện bản lĩnh và nhân cách lớn của Nguyễn Trãi. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ, ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh. Các hình ảnh thiên nhiên được miêu tả tinh tế, vừa thực vừa giàu ý nghĩa biểu tượng. Giọng điệu bài thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, thể hiện rõ tâm trạng ung dung, tự tại của tác giả. Ngoài ra, việc sử dụng điển tích như “Y, Phó”, “Khổng, Nhan” góp phần làm tăng tính triết lí và chiều sâu cho tác phẩm. Tóm lại, Bảo kính cảnh giới (Bài 33) không chỉ là bức tranh về cuộc sống thanh nhàn mà còn là lời khẳng định về một lối sống cao đẹp: sống thanh cao, giữ gìn nhân cách và tìm sự bình yên trong tâm hồn. Bài thơ giúp người đọc nhận ra giá trị đích thực của cuộc sống, từ đó biết trân trọng sự giản dị và hướng tới những điều tốt đẹp hơn.
Câu 1
Paul Coelho từng nói: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần”. Câu nói khẳng định ý nghĩa của nghị lực và tinh thần vượt khó trong cuộc sống. “Ngã” là những lần thất bại, vấp váp, đau thương mà con người phải trải qua. “Đứng dậy” là không đầu hàng số phận, biết vượt qua khó khăn để tiếp tục tiến bước. Cuộc sống không phải lúc nào cũng bằng phẳng, ai cũng có lúc gặp thất bại trong học tập, công việc hay các mối quan hệ. Điều quan trọng không phải là ta đã ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần ngã, ta có đủ can đảm để đứng lên hay không. Người có ý chí sẽ xem thất bại là bài học quý giá để trưởng thành và hoàn thiện bản thân. Thực tế cho thấy nhiều người thành công từng trải qua vô số thất bại trước khi đạt được ước mơ. Nếu sợ hãi, chán nản và bỏ cuộc, con người sẽ mãi dậm chân tại chỗ. Tuy nhiên, đứng dậy không có nghĩa là liều lĩnh lặp lại sai lầm, mà cần rút kinh nghiệm để thay đổi tốt hơn. Là học sinh, em cần rèn luyện bản lĩnh, kiên trì trước khó khăn trong học tập và cuộc sống. Câu nói trên là lời nhắc nhở sâu sắc: hãy luôn mạnh mẽ vươn lên sau mỗi lần vấp ngã.
Câu 2
Nguyễn Trãi là danh nhân văn hóa lớn của dân tộc, đồng thời là nhà thơ có tư tưởng sâu sắc. Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” (Bài 33) thể hiện quan niệm sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi và đề cao sự nhàn tĩnh của tác giả.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Trãi nhắc đến chốn quan trường đầy bon chen, nguy hiểm:
“Rộng khơi ngại vượt bể triều quan,
Lui tới đòi thì miễn phận an.”
Hình ảnh “bể triều quan” gợi nơi triều đình rộng lớn nhưng nhiều sóng gió. Tác giả “ngại vượt”, muốn tránh xa vòng danh lợi để giữ lấy sự bình yên cho bản thân. Quan niệm sống ấy cho thấy Nguyễn Trãi đã thấu hiểu những hiểm nguy nơi quyền lực.
Hai câu tiếp theo描 tả cuộc sống thanh nhàn, yên tĩnh:
“Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,
Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan.”
Khung cảnh hiện lên nhẹ nhàng, thơ mộng. Ban đêm mở cửa đón hương quế thoảng vào, ban ngày quét hiên nhìn cánh hoa rơi. Những hình ảnh giản dị mà giàu chất thơ cho thấy tâm hồn nhạy cảm, biết hòa mình với thiên nhiên của tác giả. Đây là niềm vui của người tìm được sự an nhiên nơi cuộc sống bình dị.
Hai câu luận nhắc đến những người tài giỏi xưa kia:
“Đời dùng người có tài Y, Phó,
Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan.”
Tác giả nhắc đến những bậc hiền tài như Y Doãn, Phó Duyệt – những người được đời trọng dụng. Tuy nhiên, khi thời thế không thuận lợi, ông vẫn giữ vững đạo lý của Khổng Tử, Nhan Hồi. Điều đó thể hiện nhân cách cao đẹp: dù gặp nghịch cảnh vẫn kiên định với lẽ sống đúng đắn.
Hai câu kết đúc kết triết lí sâu xa:
“Kham hạ hiền xưa toan lẫn được,
Ngẫm câu: danh lợi bất như nhàn.”
Tác giả suy ngẫm và khẳng định: danh lợi không quý bằng sự nhàn tĩnh trong tâm hồn. Đây không phải lối sống trốn tránh trách nhiệm mà là thái độ sống tỉnh táo, không để vật chất và quyền lực chi phối.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ, ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh giàu sức gợi, điển tích chọn lọc và giọng thơ điềm đạm, sâu lắng.
Tóm lại, “Bảo kính cảnh giới” (Bài 33) thể hiện tư tưởng sống thanh cao của Nguyễn Trãi: coi nhẹ danh lợi, giữ gìn nhân cách, tìm niềm vui trong cuộc sống giản dị hòa hợp với thiên nhiên. Đây là bài học ý nghĩa cho con người hôm nay.
Trong cuốn sách nổi tiếng "Nhà giả kim", Paul Coelho đã để lại một bài học sâu sắc: "Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần". Câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng triết lý nhân sinh vô cùng quý giá về bản lĩnh và sự kiên trì của con người trước những sóng gió cuộc đời.
"Ngã" là biểu tượng cho những thất bại, sai lầm và khó khăn mà bất cứ ai cũng phải đối mặt trên hành trình chinh phục ước mơ. Tuy nhiên, điều làm nên sự khác biệt giữa người thành công và kẻ thất bại chính là hành động "đứng dậy". Con số "tám lần" đứng dậy so với "bảy lần" ngã cho thấy một tinh thần không bao giờ bỏ cuộc, luôn kiên cường đối diện với nghịch cảnh. Thực tế, thành công không phải là đích đến mà là cả một quá trình rèn luyện ý chí. Mỗi lần vấp ngã là một lần ta tích lũy thêm kinh nghiệm, nhìn nhận lại bản thân để hoàn thiện hơn. Nếu sợ hãi thất bại mà không dám bước tiếp, chúng ta sẽ mãi đứng yên một chỗ và đánh mất cơ hội chạm đến vinh quang. Tóm lại, thất bại không đáng sợ, đáng sợ nhất là khi ta mất đi niềm tin và ý chí chiến đấu. Hãy coi mỗi lần "ngã" là một bước đệm để ta vươn cao hơn, bởi lẽ bí mật của một cuộc đời rực rỡ chính là sự bền bỉ và lòng can đảm đứng lên sau mọi bão giông.Câu 1 : Trong cuốn sách nổi tiếng "Nhà giả kim", Paul Coelho đã để lại một chiêm nghiệm sâu sắc: "Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần". Câu nói là một thông điệp mạnh mẽ về lòng kiên trì và bản lĩnh trước nghịch cảnh. Cuộc đời không bao giờ là một con đường trải đầy hoa hồng; trái lại, nó chứa đựng vô vàn những cú "ngã" – đó có thể là thất bại trong công việc, sự đổ vỡ trong tình cảm hay những sai lầm cá nhân. Tuy nhiên, giá trị của một con người không được đo bằng số lần họ thất bại, mà bằng số lần họ đủ dũng cảm để "đứng dậy". Khi chúng ta đứng dậy lần thứ tám, điều đó có nghĩa là chúng ta đã chiến thắng nỗi sợ hãi và rút ra được những bài học quý giá từ lần ngã trước. Sự kiên trì giúp chúng ta rèn luyện ý chí, trở nên vững vàng và trưởng thành hơn. Ngược lại, nếu chỉ biết đầu hàng trước khó khăn, con người sẽ mãi chìm đắm trong thất vọng và đánh mất cơ hội tiến về phía trước. Vì vậy, thay vì lo sợ vấp ngã, mỗi chúng ta cần trang bị cho mình tinh thần lạc quan và nghị lực bền bỉ. Hãy nhớ rằng, sau mỗi lần đứng dậy, bước chân chúng ta sẽ càng thêm vững chãi trên hành trình chinh phục những đỉnh cao mới.
Câu 2 : Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà chính trị, quân sự lỗi lạc mà còn là một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà thơ vĩ đại của dân tộc. Thơ nôm của ông, đặc biệt là tập "Quốc âm thi tập", chứa đựng tâm hồn cao đẹp và tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc. Trong đó, "Bảo kính cảnh giới" (Gương báu răn mình) - Bài 33 là một ví dụ tiêu biểu cho vẻ đẹp tâm hồn thi sĩ: một nhân cách thanh cao, luôn lo lắng cho dân, cho nước giữa chốn cảnh thanh nhàn.
Câu 1 Trong cuốn The Alchemist, Paulo Coelho từng viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần”. Câu nói đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc về ý nghĩa của sự kiên trì trong cuộc sống. Trên hành trình trưởng thành, con người không thể tránh khỏi những thất bại và khó khăn. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là ta đã vấp ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần vấp ngã ta có đủ dũng khí để đứng dậy và tiếp tục bước đi hay không. Thất bại đôi khi khiến con người cảm thấy chán nản, mất niềm tin vào bản thân. Nhưng nếu biết coi đó là bài học, chúng ta sẽ trưởng thành hơn và mạnh mẽ hơn. Trong thực tế, rất nhiều người thành công cũng từng trải qua vô số lần thất bại trước khi đạt được mục tiêu của mình. Chính sự kiên trì và ý chí không bỏ cuộc đã giúp họ vượt qua thử thách. Đối với học sinh, trong học tập cũng vậy, mỗi lần điểm kém hay gặp khó khăn đều là cơ hội để rèn luyện bản thân. Vì thế, mỗi người cần học cách kiên cường, không sợ thất bại và luôn nỗ lực vươn lên. Khi biết đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã, ta mới có thể tiến gần hơn tới thành công. Câu 2 Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc nhân cách, tư tưởng và lối sống của một bậc hiền nhân sau khi lui về ở ẩn. Qua những câu thơ ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa, tác giả đã bộc lộ quan niệm sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi và hướng đến sự bình yên trong tâm hồn. Trước hết, bài thơ thể hiện khát vọng sống tự do, thoát khỏi vòng danh lợi. Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã thể hiện thái độ dứt khoát trước những ràng buộc của cuộc đời: “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan / Lui tới đồi thì miễn phận an”. Hình ảnh “bể triều quan” gợi đến chốn quan trường đầy sóng gió và tranh đoạt. Nguyễn Trãi lựa chọn rời xa nơi ấy để tìm đến cuộc sống bình dị, thanh thản nơi thiên nhiên. Quyết định ấy không phải là sự trốn tránh mà là cách ông giữ gìn nhân cách và sự trong sạch của mình. Bên cạnh đó, bài thơ còn thể hiện triết lí sống sâu sắc của tác giả. Nguyễn Trãi quan niệm rằng trong cuộc đời, danh lợi chỉ là phù du. Vì vậy, ông chọn sống theo đạo “Không” và “Nhàn”, giữ cho tâm hồn thanh tịnh. Câu thơ “Nhà ngặt, ta bền đạo Không, Nhàn” cho thấy dù cuộc sống có khó khăn, ông vẫn kiên định với lối sống thanh cao của mình. Điều đó thể hiện bản lĩnh và nhân cách đáng kính của một bậc trí thức lớn. Không chỉ vậy, bài thơ còn cho thấy tầm nhìn rộng lớn của tác giả về thế giới và con người. Nguyễn Trãi nhắc đến những bậc hiền tài xưa và chiêm nghiệm về quy luật của cuộc đời. Qua đó, ông khẳng định rằng giá trị chân chính của con người không nằm ở quyền lực hay của cải, mà ở đạo đức và nhân cách. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn ngắn gọn, súc tích. Ngôn ngữ giản dị nhưng hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa triết lí. Các hình ảnh như “bể triều quan”, “đồi”, “đạo Không, Nhàn” vừa mang tính gợi tả vừa mang ý nghĩa biểu tượng, giúp thể hiện rõ tư tưởng của tác giả. Tóm lại, bài thơ “Bảo kính cảnh giới” không chỉ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi mà còn gửi gắm triết lí sống sâu sắc: con người nên sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi và giữ gìn nhân cách của mình. Những tư tưởng ấy vẫn còn giá trị đối với con người hôm nay.
Hbsbbd
Câu 1:
Suy nghĩ về nhận định “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” trong cuốn Nhà giả kim.
Nhận định của Paulo Coelho trong cuốn Nhà giả kim: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” mang một thông điệp sâu sắc về sức mạnh của sự kiên trì và nghị lực trong cuộc sống. Cuộc đời không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng, mà đôi khi chúng ta phải đối mặt với những thất bại, khó khăn, thử thách. Mỗi lần ngã, mỗi lần thất bại là một bài học quý giá, giúp chúng ta trưởng thành và hiểu rõ hơn về bản thân mình. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là thất bại, mà là khả năng đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Chính sự kiên cường, không bỏ cuộc khi gặp khó khăn mới là yếu tố quyết định để con người đạt được thành công. Trong cuộc sống, không có con đường nào là dễ dàng, nhưng nếu chúng ta luôn kiên định và không ngừng nỗ lực, mọi thử thách đều có thể vượt qua. Do đó, việc “ngã bảy lần và đứng dậy tám lần” chính là minh chứng cho sức mạnh tinh thần và sự vươn lên không ngừng của con người.
Câu 2:
Câu 1
Trong cuốn Nhà giả kim, Paulo Coelho từng viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần”. Câu nói đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc về ý chí và nghị lực của con người. Trong cuộc sống, không ai tránh khỏi thất bại. Thất bại có thể khiến ta buồn bã, chán nản, thậm chí muốn bỏ cuộc. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là ta đã ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần vấp ngã, ta có đủ dũng khí để đứng dậy hay không. Việc đứng dậy sau thất bại giúp con người trưởng thành hơn, rút ra bài học và tiến gần hơn đến thành công. Nếu sợ thất bại và không dám thử lại, ta sẽ mãi giậm chân tại chỗ. Ngược lại, những người kiên trì, không bỏ cuộc thường là những người đạt được thành công trong cuộc sống. Là học sinh, em cần rèn luyện ý chí, không nản lòng trước khó khăn trong học tập và cuộc sống. Có như vậy, em mới có thể vượt qua thử thách và hoàn thiện bản thân.
Câu 2
Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc quan niệm sống thanh cao, giản dị và triết lí nhân sinh của tác giả. Mở đầu bài thơ, tác giả bày tỏ thái độ không màng danh lợi: “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan”. Hình ảnh “bể triều quan” gợi lên chốn quan trường đầy bon chen, phức tạp, khiến tác giả cảm thấy e ngại. Ông lựa chọn “lui tới đợi thì miễn phần an”, sống thuận theo thời thế để giữ cho tâm hồn được bình yên.
Những câu thơ tiếp theo khắc họa một cuộc sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên: “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt, / Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan”. Không gian yên tĩnh, thanh sạch với hương thơm và cảnh sắc nhẹ nhàng cho thấy một tâm hồn tinh tế, yêu thiên nhiên và hướng đến sự thanh thản.
Đến hai câu luận, tác giả thể hiện quan niệm về con người và đạo lí sống: “Đời dùng người có tài Y, Phó, / Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan”. Dù xã hội đề cao người tài, bản thân tác giả vẫn giữ vững đạo lí, sống theo chuẩn mực đạo đức của Nho giáo. Điều đó thể hiện nhân cách cao đẹp và sự kiên định của ông.
Hai câu cuối khẳng định triết lí sống: “Kham hạ hiền xưa toan lẫn được, / Ngẫm câu: danh lợi bất như nhàn”. Tác giả đề cao lối sống nhàn, coi nhẹ danh lợi, xem đó là con đường giúp con người đạt được sự thanh thản trong tâm hồn.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh và tính biểu cảm. Các hình ảnh thiên nhiên giản dị nhưng giàu ý nghĩa góp phần thể hiện rõ tư tưởng của tác giả.
Như vậy, bài thơ không chỉ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi mà còn gửi gắm bài học sâu sắc về cách sống: biết buông bỏ danh lợi, giữ gìn nhân cách và tìm sự bình yên trong tâm hồn.
Câu 1:
Trong cuốn Nhà giả kim, Paulo Coelho từng viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói gửi gắm một thông điệp sâu sắc về nghị lực sống của con người. Trong cuộc đời, không ai tránh khỏi thất bại hay khó khăn. Điều quan trọng không phải là ta ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần vấp ngã, ta có đủ dũng khí để đứng lên hay không. Mỗi lần thất bại là một bài học quý giá giúp ta trưởng thành hơn, hiểu rõ bản thân và cuộc sống hơn. Nếu dễ dàng bỏ cuộc, con người sẽ mãi giậm chân tại chỗ và không thể đạt được thành công. Ngược lại, những người kiên trì, bền bỉ sẽ từng bước vượt qua thử thách và tiến gần hơn đến mục tiêu của mình. Trong học tập cũng vậy, có thể ta gặp bài khó, điểm thấp, nhưng nếu không nản chí, cố gắng học hỏi thì chắc chắn sẽ tiến bộ. Vì thế, mỗi chúng ta cần rèn luyện ý chí, lòng kiên trì để luôn mạnh mẽ đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã.
Câu 2:
Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” (Bài 33) của Nguyễn Trãi thể hiện rõ quan niệm sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi và đề cao đời sống tinh thần của tác giả. Ngay từ những câu thơ đầu, hình ảnh “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan / Lui tới đòi thì miễn phận an” cho thấy thái độ tránh xa chốn quan trường đầy bon chen, phức tạp. Tác giả lựa chọn cuộc sống thuận theo tự nhiên, tìm sự bình yên trong tâm hồn. Những câu tiếp theo vẽ nên bức tranh sinh hoạt giản dị mà thanh tao: “Hé cửa đêm chờ hương quế lọt / Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan”. Đó là một cuộc sống gần gũi với thiên nhiên, giàu chất thơ và đầy thư thái.
Không chỉ dừng lại ở lối sống, bài thơ còn thể hiện quan niệm về con người và danh lợi. Nguyễn Trãi nhắc đến những người tài như “Y, Phó” nhưng khẳng định bản thân chọn theo “đạo Không, Nhan”, tức là hướng đến lối sống thanh cao, coi trọng đạo đức hơn danh vọng. Ông cũng bộc lộ thái độ không chấp nhận việc “kham hạ hiền xưa toan lấn được”, thể hiện lòng tự trọng và khí tiết của một kẻ sĩ. Câu kết “danh lợi bất như nhàn” như một lời chiêm nghiệm sâu sắc: danh và lợi không thể sánh với sự nhàn tản, thanh thản trong tâm hồn.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với ngôn ngữ cô đọng, hàm súc. Hình ảnh thơ giản dị mà giàu sức gợi, kết hợp với các điển tích tạo nên chiều sâu ý nghĩa. Giọng điệu nhẹ nhàng, trầm lắng, thể hiện rõ phong thái ung dung, tự tại của tác giả.
Như vậy, bài thơ không chỉ phản ánh lối sống của Nguyễn Trãi mà còn gửi gắm một triết lí sống sâu sắc: hãy biết buông bỏ danh lợi để tìm đến sự bình yên trong tâm hồn. Đây cũng là bài học ý nghĩa đối với mỗi người trong cuộc sống hôm nay.
Câu 1 : Trong Nhà giả kim, Paulo Coelho từng viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói gửi gắm một thông điệp sâu sắc về ý chí và nghị lực của con người. Trong cuộc sống, thất bại là điều không thể tránh khỏi, bởi không ai có thể thành công ngay từ lần đầu tiên. Điều quan trọng không phải là ta đã vấp ngã bao nhiêu lần, mà là sau mỗi lần như thế, ta có đủ dũng khí để đứng lên hay không. Người biết kiên trì sẽ rút ra bài học từ thất bại, biến khó khăn thành động lực để tiến lên. Ngược lại, nếu dễ dàng bỏ cuộc, con người sẽ mãi giậm chân tại chỗ. Thực tế cho thấy nhiều người thành công đều từng trải qua vô số lần thất bại trước khi chạm đến đỉnh cao. Vì vậy, mỗi chúng ta cần rèn luyện bản lĩnh, giữ vững niềm tin và không ngừng nỗ lực. Có như thế, ta mới có thể vượt qua thử thách và đạt được mục tiêu trong cuộc sống. Câu 2 : Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” của Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc quan niệm sống và nhân cách cao đẹp của tác giả. Trước hết, nội dung bài thơ khẳng định lối sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi. Tác giả mở đầu bằng thái độ ung dung, không màng đến quyền quý: “Rộng khơi ngại vượt bể triều quan / Lui tới đời thì miễn phận an.” Qua đó cho thấy ông chủ động tránh xa chốn quan trường đầy bon chen để giữ sự thanh thản trong tâm hồn. Những hình ảnh như “hé cửa đêm chờ hương quế lọt”, “quét hiên ngày lệ bóng hoa tan” gợi nên một cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên, giàu chất thơ. Không chỉ vậy, bài thơ còn thể hiện quan niệm sống trọng đạo lý. Nguyễn Trãi đề cao những giá trị tinh thần, lấy đạo Nho làm nền tảng: “Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan.” Điều đó cho thấy dù hoàn cảnh khó khăn, ông vẫn giữ vững nhân cách, không bị danh lợi làm lay chuyển. Đặc biệt, câu kết “Ngẫm câu: danh lợi bất như nhàn” chính là lời khẳng định dứt khoát: danh lợi không thể sánh với sự nhàn tản, thanh cao trong tâm hồn. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn xen lục ngôn linh hoạt, ngôn ngữ giản dị mà hàm súc. Hình ảnh thơ gần gũi với đời sống, giàu tính gợi, kết hợp với giọng điệu trầm tĩnh, suy tư đã tạo nên chiều sâu cho tác phẩm. Các biện pháp đối, liệt kê được vận dụng khéo léo, góp phần làm nổi bật tư tưởng của tác giả. Tóm lại, bài thơ không chỉ là bức tranh cuộc sống thanh nhàn mà còn là lời nhắn nhủ về cách sống: hãy biết coi nhẹ danh lợi, giữ gìn nhân cách và hướng tới những giá trị bền vững của cuộc đời.
Câu 1: Trong Nhà giả kim, Paulo Coelho viết: “Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần.” Câu nói giản dị mà lay động ấy gợi ra một chân lí: thất bại không phải dấu chấm hết, mà là phép thử của ý chí. Con người không thể tránh khỏi vấp ngã; điều quyết định giá trị lại nằm ở cách ta đứng dậy sau mỗi lần gục xuống. “Đứng dậy tám lần” không chỉ là sự kiên trì, mà còn là bản lĩnh nhìn thẳng vào sai lầm, học từ nó và tiếp tục bước đi. Trong học tập, có khi điểm số chưa như ý; trong cuộc sống, có lúc nỗ lực chưa được đền đáp—nhưng nếu buông xuôi, ta tự đóng lại mọi cánh cửa. Ngược lại, bền bỉ sẽ mở ra cơ hội mới, giúp ta trưởng thành hơn, vững vàng hơn. Dĩ nhiên, kiên trì không đồng nghĩa với cố chấp; cần biết điều chỉnh cách làm, tìm kiếm hỗ trợ và giữ niềm tin tỉnh táo. Bởi vậy, mỗi lần ngã hãy xem như một bậc thang: lau bụi, hít sâu, rồi bước tiếp—đó chính là “bí mật” đưa ta đến những chân trời xa hơn.
Câu 2: Bài thơ của Nguyễn Trãi thể hiện rõ quan niệm sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi. Hai câu đầu cho thấy thái độ tránh xa chốn quan trường đầy sóng gió, lựa chọn cuộc sống an phận, bình yên. Đó không phải là trốn tránh, mà là sự tỉnh táo sau những biến động của cuộc đời. Hai câu tiếp vẽ nên bức tranh sinh hoạt giản dị: đêm đón hương quế, ngày quét hiên với cánh hoa rụng. Cảnh vật nhẹ nhàng, tinh tế, phản ánh tâm hồn thanh thản, hòa hợp với thiên nhiên. Qua đó, niềm vui của tác giả không nằm ở vật chất hay quyền lực, mà ở những điều bình dị quanh mình. Câu kết đúc kết triết lí sống: “danh lợi bất như nhàn”. “Nhàn” ở đây là sự tự do trong tâm hồn, không bị ràng buộc bởi danh vọng. Bài thơ là lời khẳng định lối sống thanh cao, an nhiên, thể hiện vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Trãi.
Câu 1:Câu nói nhấn mạnh ý nghĩa của sự kiên trì và nghị lực trong cuộc sống. Con người không thể tránh khỏi thất bại, nhưng điều quan trọng là cách ta đối diện và vượt qua nó. Mỗi lần vấp ngã là một lần ta học được bài học quý giá, giúp bản thân trưởng thành hơn. Nếu dễ dàng bỏ cuộc, ta sẽ không bao giờ đạt được mục tiêu của mình. Trong thực tế, những người thành công đều từng trải qua nhiều thất bại nhưng họ không ngừng cố gắng. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện ý chí, giữ niềm tin và dũng cảm đứng lên sau khó khăn. Đó chính là chìa khóa để đi đến thành công và sống có ý nghĩ
Câu 2:Bài thơ thể hiện quan niệm sống thanh cao, coi nhẹ danh lợi. Hai câu đầu cho thấy tác giả chủ động tránh xa chốn quan trường đầy bon chen để tìm sự bình yên. Các hình ảnh “hương quế”, “bóng hoa tan” gợi không gian tĩnh lặng, thanh khiết, thể hiện tâm hồn hòa hợp với thiên nhiên. Ở hai câu luận, tác giả nhắc đến những người tài như Y, Phó nhưng khẳng định bản thân vẫn giữ vững đạo lý Nho gia, không vì hoàn cảnh mà thay đổi nhân cách. Hai câu cuối khép lại bằng triết lí sống: coi thường danh lợi, đề cao sự nhàn tản, an nhiên.Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chặt chẽ, ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh và mang tính biểu cảm cao. Giọng điệu trầm tĩnh, suy tư giúp làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của tác giả. Qua đó, bài thơ thể hiện nhân cách cao đẹp của Nguyễn Trãi: thanh liêm, kiên định và hướng tới cuộc sống giản dị, an nhàn.