Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
mk ko bít nhưng mk bít câu nói này có trong ngày Vu Lan- Báo Hiếu
Tôi ngưỡng mộ tác giả Đinh Vũ Ngọc (ĐVN) từ khi nhà thơ Hương Thu (Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ UNESCO Thơ Đường Việt Nam) đọc bài thơ “MỜI” của ông trong buổi lễ Họp mặt các Chi nhánh CLB UNESCO Thơ Đường các tỉnh phía Nam lần đầu tiên năm 2006. Giọng thơ toát lên sự trẻ trung, khỏe khoắn. Đây là một trong những nét mới ít thấy ở thể thơ Luật Đường. Chưa biết ông trước khó có thể hình dung ra được sự “cổ lai hy” đó chính là ở một tác giả không chuyên nghiệp và đã bước vào lớp người “cổ lai hy”. Khi nhà thơ Thành Nhân, Chủ nhiệm chi nhánh CLB UNESCO Thơ Đường thành phố Cao Lãnh ghé chơi và đọc cho nghe bài thơ “CHIẾC ÁO DÀI VIỆT NAM”, tôi hoàn toàn bị chinh phục và đã khẩn khoản nhờ anh đọc cho tôi chép lại nguyên tác và đây cũng chỉ là bài thơ thứ hai của tác giả ĐVN mà tôi vinh hạnh được đọc. Thế là tôi cứ thế mà nghiền ngẫm, đọc đi đọc lại cả chục lần vẫn cứ say sưa.
Hãy lắng nghe tác giả mở đề:
Chiếc áo quê hương dáng thướt tha
Non sông gấm vóc mở đôi tà
Câu “phá đề” giới thiệu trực khởi về chiếc áo quê hương mang dáng vóc dịu dàng, xinh xắn rất phù hợp với phụ nữ Việt Nam. Câu “thừa đề” nâng cao lên, dẫn người đọc liên tưởng tới “non sông gấm vóc”. Cách mở đề thành công, mang tính truyền thống thường thấy, chưa sử dụng bất cứ nghệ thuật gì khác biệt. Điều tôi khâm phục chính là sự khéo léo của tác giả trong việc lồng ghép, lựa chọn từ ngữ để diễn tả một cách khái quát hết những ý chính mà bài thơ sẽ nói đến đó là: chiếc áo dài quê hương, phù hợp với vẻ đẹp hình thể kết hợp với nét thùy mị, duyên dáng, nết na, thanh thoát của chị em phụ nữ Việt Nam, không những chỉ mang phong thái cốt cách văn hóa của người Việt Nam mà còn nhắc nhở mỗi người về tình yêu đất nước.
Tà bên Đông Hải lung linh sóng
Tà phía Trường Sơn rực rỡ hoa
Cặp câu “thực” cũng là một sự thăng hoa hoa của cảm hứng nghệ thuật. Hai câu giống như hai vết kéo của người thợ may, đã cắt xong hai vạt áo; giống như hai nét sổ của người họa sĩ, vừa chấm phá nét phác thảo bản họa đồ đất nước; giống như những tiết tấu mở đầu hai dòng nhạc hứa hẹn cho những giai điệu du dương. Chỉ hai câu thôi cũng đã thấy biển bạc, rừng vàng, thấy cả dãy Trường Sơn hùng vĩ. Chỉ hai câu mà thấy hiện lên cả âm thanh, màu sắc. Ta tưởng như nghe tiếng sóng vỗ dạt dào. Ta tưởng như thấy trăm hoa đua nở. Tác giả không ngần ngại việc sử dụng “điệp tự”. Chữ “tà” níu từ câu “phá” được lặp lại hai lần trong cặp “thực” không hề phá vỡ bố cục mà càng làm cho tứ thơ liền lạc, dẫn người đọc phải đọc tiếp, chiêm ngưỡng tiếp. Đọc tới đây ta có cảm giác như đang trong chuyến hành hương tìm về cội nguồn, vừa lắng nghe chăm chú, vừa nhìn theo cánh tay chỉ, vừa khâm phục sự am tường của người hướng dẫn viên du lịch.
Vạt rộng Nam phần chao cánh gió
Vòng eo Trung bộ thắt lưng ngà
Một “vạt áo” nhỏ nhoi, sao như lột tả cả miền Nam thân thiết. Những cánh rừng miền Đông bát ngát; những cánh rừng ngập mặn bạt ngàn; những bãi biển phương Nam hiền hòa, ấm nắng; những dòng sông chở nặng phù sa; những đồng lúa bao la xanh ngắt đương thì con gái… đang vươn ra đón ngọn gió lành. Kỳ diệu hơn là “vòng eo” thắt đáy lưng ong, niềm tự hào của vẻ đẹp phụ nữ phương Đông truyền thống lại được tác giả nhuần nhị ẩn dụ vào dải đất miền Trung điệp trùng đồi núi và nổi tiếng với những eo vịnh biển đẹp tầm cỡ quốc tế, những khu du lịch sầm uất, mỗi năm níu gót hàng triệu bước chân du khách. Nghệ thuật đối ở cả hai cặp “thực” và “luận” đều rất nhuần nhuyễn. Tác giả hình như không chỉ là nhà thơ! Tác giả là họa sĩ, là kiến trúc sư? Tác giả là nhà khoa học viễn tưởng hay là một nghệ nhân điêu khắc? Không thể nào? Phải có sự phối hợp nghệ thuật hài hòa lắm giữa các bộ môn ấy mới có thể có được sự quan sát tinh tường dường ấy, sự miêu tả tinh tế dường ấy.
Nhịp tim Hà Nội nhô gò ngực
Hương lúa ba miền thơm thịt da.
Đành rằng rất thích, thích đến mê đắm bài thơ này, tôi vẫn mạnh dạn chân thành phát biểu quan điểm riêng của mình là: cặp câu “kết” chưa cân xứng với tầm cỡ của bài thơ. Tác giả đã có sự khám phá khi phát hiện và lựa Hà Nội làm điểm nhấn cho “vạt trước của chiếc áo”. Tuy nhiên, “trái tim Hà Nội” có lẽ vẫn đắt hơn là “nhịp tim”. Các cụm từ “nhô gò ngực” và “thơm thịt da” dẫu rất hình tượng nhưng lại quá cụ thể đã làm giảm tính tế nhị và đánh mất chất thơ. Cụm từ “Hương lúa ba miền” thật đắt đã góp phần làm mờ nhạt bớt hạn chế nhỏ vừa kể trên.
Trong những năm gần đây, giới yêu thích thơ luật Đường đã có sân chơi riêng, có điều kiện giao lưu rộng rãi hơn, đặc biệt là từ khi Câu lạc bộ UNESCO Thơ Đưởng Việt Nam ra đời và liên tục cho ra mắt các chi nhánh ở các tỉnh thành trong cả nước. Tuy vậy, vẫn còn không ít người cho rằng đó là hình thức cổ điển, ngoại lai, gò bó, kém sáng tạo thì việc sáng tác, phát hiện và giới thiệu những bài thơ hay ở thể thơ này càng trở nên là một trong những việc đáng làm. Có thể những suy nghĩ của tôi chưa thật sự xác đáng, song tự đáy lòng tôi vừa rất kính trọng vừa nể phục tác giả ĐVN. Qua bài thơ của mình ông đã cho thấy “bình xưa” chưa hẳn đã xưa. Đặc biệt sự tìm tòi, ý tưởng sáng tạo đã vượt lên hẳn những bài thơ luật Đường đương thời. Tính trí tuệ được toát ra từ mỗi từ, mỗi chữ, mỗi câu. Đúng là một tuyệt tác, một trong những bài thơ hay nhất về chiếc áo dài Việt Nam mà tôi đã từng đọc! Chúc tác giả ĐVN khỏe mạnh, sống lâu và say mê sáng tác để ngày càng có thêm nhiều tác phẩm hay gửi đến bạn yêu thơ cả nước.
Bạn tham khảo nhé! Chúc bạn học tốt!
Chiếc áo quê hương dáng thướt tha
Non sông gấm vóc mở đôi tà
Tà bên Đông Hải lung linh sóng
Tà phía Trường Sơn rực rỡ hoa
Vạt rộng Nam phần chao cánh gió
Vòng eo Trung bộ thắt lưng ngà
Nhịp tim Hà Nội nhô gò ngực
Hương lúa ba miền thơm thịt da.
Đinh Vũ Ngọc
Các đồng chí đã quen thuộc với hình ảnh của những nữ quân nhân với các bộ quân phục trông mạnh mẽ, gọn gàng thể hiện nét đẹp chính quy. Nhưng chúng tôi cũng muốn thể hiện mình thướt tha trong bộ áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Đến với hội thi hôm nay, các nữ quân nhân đơn vị rất phấn khởi và tự tin trong tà áo làm nên nét đẹp quê hương mình…
Hình ảnh người con gái Việt Nam dịu dàng tha thướt trong chiếc áo dài, với chiếc nón bài thơ e ấp trong tay, nghiêng nghiêng vành nón lá như cố giấu nụ cười ánh mắt là một hình ảnh duyên dáng, dễ thương và gợi cảm nhất của người con gái Việt Nam .
"Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay"
BíchLan
Chiếc áo dài và chiếc nón là trang phục làm nổi bật và tăng thêm nét duyên dáng, e ấp, dịu dàng, trang nhã, đài các, kiêu sa ... của người phụ nữ Việt. Áo dài như dòng nước uốn lượn theo từng đường nét cơ thể mềm mại thướt tha của người phụ nữ . Hai vạt áo dài như đôi cánh và những bước chân chim của nàng làm dao động cả cảnh vật và không khí chung quanh. Thân hình thấp thoáng sau tà áo, khuôn mặt mờ tỏ sau vành nón, ẩn hiện như hư như thực
Tấm áo lụa mỏng thướt tha với nhiều màu sắc kín đáo trang nhã trở thành tâm điểm chú ý và là bông hoa sáng tôn lên vẻ yêu kiều thanh lịch cho người phụ nữ.
Đã hàng thế kỉ trôi qua, trang phục áo dài trắng trinh nguyên như là biểu tượng cho vẻ đẹp thanh khiết cao quý của tâm hồn người thiếu nữ đất Việt,
Văn hóa áo dài Việt Nam đã trải qua nhiều tiếp biến, giao lưu và có đời sống lịch sử qua nhiều triều đại. Mỗi triều đại, chiếc áo dài phản ánh một sự phát triển mới về cảm quan thẩm mỹ của một đất nước đa dân tộc. Mỗi dân tộc người trên đất Việt có thể sáng tạo mãi trên chiếc áo dài của mình mà không hề lẫn lộn với các tộc người khác. Sự sáng tạo thể hiện không chỉ ở các kiểu cách, các màu sắc mà còn ở các tiết họa, kết cấu trang trí trên áo dài. Mỗi bước tiến của văn hóa, văn minh, chiếc áo dài của mỗi tộc người càng gắn liền với bản sắc dân tộc - hiện đại hơn
Chiếc áo dài là thể hiện sự thống nhất giữa cái đúng, cái tốt và cái đẹp trong văn hóa Việt Nam. Chiếc áo dài Việt đã từng được trần bông để mặc trong lúc hàn giá, đã từng được may bằng lụa mỏng để mặc trong những ngày nóng nực. Mùa Xuân, mùa Thu, chiếc áo dài Việt có thể được may bằng những chất liệu phù hợp với thời tiết.
Đời sống thẩm mỹ phong phú của chiếc áo dài Việt biểu hiện tập trung ở sự thể hiện khác nhau của cái đẹp. Áo dài có thể biểu hiện trong cái đẹp kiêu sa, lộng lẫy, choáng ngợp, lại cũng có thể biểu hiện trong cái đẹp dịu dàng đoan trang thùy mị, trong cái đẹp giản dị, thường nhật. Áo dài Việt có thể đẹp khi mang lại sự ấm áp trong mùa Đông, mát mẻ trong mùa hè, dịu dàng trong mùa Xuân, kiều diễm trong mùa Thu. Những gam màu, những kiểu dáng vô tận được thể hiện thông qua chiếc áo dài Việt không chỉ tạo nguồn cảm xúc thẩm mỹ bất tận cho các nhà sáng tạo mà còn làm rung động hàng triệu trái tim về sự xuất hiện của nó trong những tình huống nhất định của cuộc sống.
Cảm xúc về chiếc áo dài Việt Nam cũng đã làm nên những ca khúc bất từ, đi vào thơ ca, phảng phất được cái riêng, cái giản dị của cuộc sống:
Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
Hôm xưa em đến mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng em đi đến
Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng
Do tính đa dạng kỳ diệu trong đời sống thẩm mỹ của xã hội, chiếc áo dài có thể là hình ảnh tạo dựng về cái đẹp của người phụ nữ khi sử dụng nó. Khoác chiếc áo dài lên mình, bước ra đường phố, đến nơi công sở người phụ nữ đã tự cảm thấy mình đẹp hơn và đối diện cũng như hòa chung vào với cái đẹp khác của xã hội. Người phụ nữ mặc chiếc áo dài để nâng cao giá trị của mình và hy vọng được
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời

.
Câu1 thể thơ tự do
Câu 2 phương thức biểu đạt chính là biểu cảm xúc tâm tư của tác giả ngoài ra bài thơ cảm xúc nốt hợp với phương thức tự sư kế lại những trải nghiệm quan sát và miêu tả hình ảnh những lời câu dòng sông
Câu 3 tác dụng của điệp ngữ việt lặp lại hai dòng đà nằm năm mười lăm năm là mươi lăm và nửa đời tôi thấy có tác dụng cho nhấm mạch sự bền bỉ kèo dài của thời và sự ám ảnh khơ nguôi trong tâm trí tác giả tạo nghịp điệu da diết xoáy sâu vào cảm xác về nỗi dục hoặc một sự thật hiểu nhiên mà tác giả đã chứng kiếm suất nửa đời người khẳng định tính xác thực và chiều sâu của những chiêm nghiệm mà nhà thơ nhấn truyền tải
Câu4đề tài: Viết về những chiêm nghiệm cuộc sống, sự thức tỉnh trước nỗi đau hoặc thực tại khắc nghiệt (thông qua hình ảnh những lưỡi câu và con cá) Thể chủ đề hiện sự đồng cảm với nỗi đau, sự thức tỉnh về lương tâm và lòng trắc ẩn của con người trước những tổn thương mà thế giới xung quanh phải gánh chịu.
BÀI LÀM
Phần I: Đọc hiểu
Văn bản: Những người đàn bà gánh nước sông (Nguyễn Quang Thiều)
Câu 1:
Câu 2:
Câu 3: Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:
Câu 4:
Câu 1. - Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. Các câu thơ có độ dài ngắn khác nhau, không bị gò bó bởi niêm luật hay vần điệu cứng nhắc, giúp tác giả bộc lộ cảm xúc một cách tự nhiên và ám ảnh. Câu 2. - Các phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự. + Biểu cảm: Thể hiện nỗi xót xa, suy tư về thân phận con người. + Miêu tả: Hình ảnh những ngón chân xương xẩu, bối tóc vỡ, mây trắng... + Tự sự: Kể về vòng lặp của những kiếp người bên dòng sông. Câu 3. -Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ "Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy" được lặp lại hai lần nhằm: - Về nội dung: Nhấn mạnh sự chảy trôi của thời gian và tính chất bền bỉ, nhẫn nhịn của những người đàn bà. Nó cho thấy cái nghèo khó, vất vả không phải là nhất thời mà là sự đeo bám dai dẳng qua nhiều thế hệ. - Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu ám ảnh, như một lời khẳng định về một sự thật hiển nhiên nhưng đau đớn mà tác giả đã chứng kiến suốt cả đời người. Nó kết nối quá khứ với hiện tại, làm nổi bật sự bế tắc của vòng lặp số phận. Câu 4. - Đề tài: Viết về đời sống của những người dân lao động nghèo khổ ở vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, gắn liền với hình ảnh dòng sông. - Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự xót xa trước kiếp nhân sinh cơ cực, quẩn quanh của con người (người đàn bà vất vả với gánh nặng mưu sinh, người đàn ông với những giấc mơ xa vời, vô vọng). Qua đó, tác giả bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc và suy tư về việc làm sao để thoát khỏi vòng lặp khổ đau ấy. Câu 5. - Suy nghĩ sau khi đọc bài thơ - Bài thơ để lại trong lòng người đọc nhiều suy ngẫm về số phận và sự tiếp nối: + Sự ám ảnh về cái nghèo: Hình ảnh "những ngón chân móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái" là một chi tiết thực đến gai người, gợi lên sự vất vả, lam lũ tận cùng của người phụ nữ Việt Nam xưa.
+ Vòng lặp định mệnh: Điều đau lòng nhất là sự lặp lại. Con gái lại gánh nước, con trai lại vác cần câu với những "cơn mơ biển" không thành. Nó gợi suy nghĩ về sự bế tắc khi con người ta không có lối thoát để thay đổi cuộc đời, cứ thế lớn lên và lặp lại bi kịch của cha mẹ. + Sự thức tỉnh: Bài thơ không chỉ là lời than thân trách phận mà còn là một hồi chuông đánh thức sự trắc ẩn. Nó nhắc nhở chúng ta cần nhìn sâu vào những mảnh đời nhỏ bé quanh mình và khao khát về một sự thay đổi mạnh mẽ hơn để thế hệ trẻ (lũ trẻ cởi truồng) có một tương lai khác đi, không còn "ngơ ngác" trước những lưỡi câu cuộc đời.
Câu 1:
→ Thể thơ tự do (không bị ràng buộc số câu, số chữ, vần nhịp linh hoạt).
Câu 2:
→ Phương thức biểu đạt: tự sự + miêu tả + biểu cảm.
Câu 3:
→ Tác dụng của việc lặp câu:
Câu 4:
Câu 5:
→ Gợi suy nghĩ:
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên. Thể thơ: Tự do (Số chữ trong mỗi dòng không cố định, nhịp điệu linh hoạt theo cảm xúc). Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. Các phương thức kết hợp: Tự sự (kể về hành động gánh nước, đi câu) và Miêu tả (hình ảnh ngón chân, búi tóc, mây trắng...). Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” trong bài có tác dụng gì? Tạo nhịp điệu: Nhấn mạnh sự lặp đi lặp lại của thời gian, tạo âm hưởng ám ảnh. Nhấn mạnh sự bền bỉ: Khẳng định sự tồn tại lâu dài, bền bỉ của những kiếp người lam lũ. Hình ảnh người phụ nữ gánh nước không chỉ là một khoảnh khắc mà là cả một đời người, một số phận gắn liền với dòng sông. Bộc lộ cảm xúc: Thể hiện cái nhìn đau đáu, sự quan sát tỉ mỉ và niềm xót xa của tác giả trước cuộc sống nhọc nhằn của người dân quê hương. Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ. Đề tài: Viết về người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khổ ở làng quê. Chủ đề: Bài thơ ca ngợi sự hy sinh, sức chịu đựng bền bỉ của những người phụ nữ, đồng thời phản ánh vòng lặp nghèo khó, đơn điệu của những kiếp người nhỏ bé trong xã hội cũ/nông thôn nghèo. Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì? Sự thấu hiểu và xót xa: Cảm nhận sâu sắc nỗi vất vả, lam lũ của những người phụ nữ (hình ảnh ngón chân "xương xẩu", "toẽ ra như móng chân gà mái" rất thực và đau đớn). Trân trọng những giá trị bình dị: Biết ơn sự hy sinh thầm lặng của những người mẹ, người chị đã gánh vác cả gia đình trên vai. Suy tư về định mệnh/vòng quẩn quanh: Cảm thấy buồn thương trước sự nối tiếp của các thế hệ (con gái lại đặt đòn gánh, con trai lại vác cần câu), gợi sự trăn trở về việc làm sao để thoát khỏi sự nghèo khó, đơn điệu đó.
Câu 1:
• Thể thơ: Tự do
Câu 2: Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
Câu 3:
Việc sử dụng điệp ngữ này có các tác dụng sau:
Tạo nhịp điệu chậm rãi, ám ảnh và kết nối các phần của bài thơ.
Nhấn mạnh dòng thời gian đằng đẵng, bền bỉ và sự quan sát kiên trì của tác giả.
Khẳng định tính chất "truyền đời", không thay đổi của những kiếp người lam lũ. Đó là một nỗi đau, một sự vất vả kéo dài từ quá khứ đến hiện tại.
Câu 4:
Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khó ở làng quê.
Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự thấu cảm sâu sắc đối với số phận vất vả, lam lũ của những người đàn bà vùng sông nước. Qua đó, tác giả suy ngẫm về sự nối tiếp của cái nghèo, sự nhọc nhằn từ thế hệ này sang thế hệ khác (từ mẹ sang con).
Câu 5: Cảm thấy xúc động trước hình ảnh những người bà, người mẹ đã hy sinh cả cuộc đời, chịu đựng gian khổ (hình ảnh "ngón chân xương xẩu", "móng chân gà mái") để nuôi dạy con cái.Cảm giác buồn thương khi thấy sự nghèo khó có tính chất tiếp nối Bài thơ nhắc nhở chúng ta về những giá trị truyền thống và sự nhẫn nại của con người Việt Nam trước nghịch cảnh.
Câu 1:
Xác định thể thơ của bài thơ trên.
• Thể thơ: Tự do (số chữ trong các dòng không bằng nhau, nhịp điệu linh hoạt theo cảm xúc).
Câu 2:
Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.
• Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc, suy ngẫm của tác giả).
• Các phương thức kết hợp: Miêu tả (khắc họa hình ảnh người đàn bà, đôi bàn chân, dòng sông...) và Tự sự (kể về sự nối tiếp của các thế hệ).
Câu 3:
Việc lặp lại hai lần dòng thơ "Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy" có tác dụng gì?
Việc sử dụng điệp ngữ này có các tác dụng sau:
• Về cấu trúc: Tạo nhịp điệu chậm rãi, ám ảnh và kết nối các phần của bài thơ.
• Về nội dung: * Nhấn mạnh dòng thời gian đằng đẵng, bền bỉ và sự quan sát kiên trì của tác giả.
• Khẳng định tính chất "truyền đời", không thay đổi của những kiếp người lam lũ. Đó là một nỗi đau, một sự vất vả kéo dài từ quá khứ đến hiện tại.
Câu 4:
Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.
• Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khó ở làng quê.
• Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự thấu cảm sâu sắc đối với số phận vất vả, lam lũ của những người đàn bà vùng sông nước. Qua đó, tác giả suy ngẫm về sự nối tiếp của cái nghèo, sự nhọc nhằn từ thế hệ này sang thế hệ khác (từ mẹ sang con).
Câu 5:
Bài thơ gợi cho em những suy nghĩ gì?
Bạn có thể trình bày suy nghĩ cá nhân dựa trên các ý chính sau:
• Sự biết ơn và thấu hiểu: Cảm thấy xúc động trước hình ảnh những người bà, người mẹ đã hy sinh cả cuộc đời, chịu đựng gian khổ (hình ảnh "ngón chân xương xẩu", "móng chân gà mái") để nuôi dạy con cái.
• Nỗi trăn trở về số phận: Cảm giác buồn thương khi thấy sự nghèo khó có tính chất tiếp nối ("Con gái lại đặt đòn gánh lên vai...").
• Giá trị của nguồn cội: Bài thơ nhắc nhở chúng ta về những giá trị truyền thống và sự nhẫn nại của con người Việt Nam trước nghịch cảnh.
Câu 1.
→ Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
→ Các phương thức biểu đạt:
Câu 3.
→ Tác dụng của việc lặp lại câu thơ:
Câu 4.
→ Phản ánh cuộc đời cơ cực, bế tắc và lặp lại qua nhiều thế hệ
→ Thể hiện niềm xót thương và suy tư của tác giả về số phận con người và những ước mơ không trọn vẹn
Câu 5.
→ Bài thơ gợi cho em:
Câu 1: Thể thơ Tự do. Câu 2: Các phương thức biểu đạt: Biểu cảm kết hợp với tự sự và miêu tả. Câu 3: Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ "Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy": Về nội dung: Nhấn mạnh sự bền bỉ, kiên nhẫn nhưng cũng đầy cam chịu của người phụ nữ trong vòng quay nhọc nhằn của cuộc đời. Nó cho thấy cái nghèo khổ, vất vả không phải là nhất thời mà kéo dài dằng dặc qua nhiều thế hệ. Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu ám ảnh, tính nhạc cho bài thơ và khẳng định cái nhìn chiêm nghiệm, xót xa của tác giả trước hiện thực đời sống. Câu 4: Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khó. Chủ đề: Sự hy sinh thầm lặng, số phận nhọc nhằn, quẩn quanh của người phụ nữ trong bối cảnh cuộc sống khắc nghiệt và sự tiếp nối đầy bi kịch của các thế hệ. Câu 5: Suy nghĩ gợi ra từ bài thơ: Sự xúc động và biết ơn trước sự hy sinh vô điều kiện của những người phụ nữ (người mẹ, người chị). Trăn trở về cái nghèo và sự quẩn quanh: Làm sao để những thế hệ sau (lũ trẻ) thoát khỏi "vòng lặp" của đòn gánh và những cơn mơ xa vời để có cuộc đời tươi sáng hơn. Nhận thức về trách nhiệm của bản thân trong việc trân trọng các giá trị gia đình và nỗ lực thay đổi nghịch cảnh.
em chịu
Câu 1
Thể thơ của căn bản trên là Tự do.
Câu 2.
Các phương thức biểu đạt bao gồm: Biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự.
Câu 3.
Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ:
• Về nội dung: Nhấn mạnh dòng chảy của thời gian đằng đẵng và sự quan sát bền bỉ, ám ảnh của tác giả đối với cuộc sống lam lũ của người dân quê hương. Nó cho thấy những hình ảnh ấy không phải là khoảnh khắc nhất thời mà là một phần máu thịt trong ký ức của nhân vật tôi.
• Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu cho bài thơ, như một lời khẳng định về sự lặp đi lặp lại của những kiếp người, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các phần của văn bản.
Câu 4.
• Đề tài: Viết về người phụ nữ và cuộc sống lao động ở vùng nông thôn Việt Nam.
• Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự trân trọng, thấu hiểu và niềm xót xa trước cuộc đời lam lũ, nhọc nhằn nhưng đầy đức hy sinh của những người phụ nữ. Qua đó, tác giả bộc lộ tình yêu quê hương và sự trăn trở về sự tiếp nối của những kiếp người trong vòng xoáy nghèo khó của làng quê.
Câu 5.
Bài thơ gợi lên trong lòng người đọc sự xúc động sâu sắc về vẻ đẹp của những con người lao động bình dị. Hình ảnh những người đàn bà gánh nước với đôi chân xương xẩu là biểu tượng cho sự tần tảo, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam qua nhiều thế hệ. Đồng thời, tác phẩm cũng nhắc nhở chúng ta về lòng biết ơn đối với những hy sinh thầm lặng của mẹ, của bà để nuôi dưỡng các thế hệ con cháu trưởng thành. Qua đó, mỗi người cần có ý thức trân trọng những giá trị truyền thống và có trách nhiệm hơn với gia đình, quê hương.
Câu 1. Bài thơ tren được viết theo: the thơ tự do.
Câu 2. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ:
Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:
Câu 4.
Câu 5. Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ về cuộc sống vất vả của người lao động nghèo, nhất là người phụ nữ nông thôn. Qua đó, em thêm trân trọng sự hi sinh thầm lặng của họ, biết yêu thương gia đình, quý trọng giá trị lao động và mong muốn cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp hơn.
Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên. Thể thơ: Tự do. (Các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không gò bó về số chữ hay vần điệu). Câu 2: Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. Các phương thức kết hợp: Miêu tả (tả hình dáng người đàn bà, đôi bàn tay, bước chân...) và Tự sự (kể về sự nối tiếp của các thế hệ). Câu 3: Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì? Việc sử dụng điệp ngữ và điệp cấu trúc này có các tác dụng sau: Về nội dung: Nhấn mạnh sự trôi chảy của thời gian và sự bền bỉ, nhẫn nại của những người phụ nữ. Nó cho thấy cái nghèo khó, vất vả không phải là nhất thời mà kéo dài dằng dặc từ đời này sang đời khác. Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu ám ảnh, day dứt cho bài thơ; đồng thời khẳng định sự quan sát kỹ lưỡng và nỗi xúc động sâu sắc của tác giả trước số phận những người phụ nữ quê hương. Câu 4: Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ. Đề tài: Viết về những người phụ nữ lao động ở làng quê Việt Nam (hình ảnh người bà, người mẹ bên dòng sông). Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự thấu cảm, trân trọng đối với sự hy sinh thầm lặng, nỗi vất vả gian truân của người phụ nữ, đồng thời phản ánh vòng lặp của số phận và niềm hy vọng mong manh nơi làng quê. Câu 5: Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì? Bạn có thể trình bày theo suy nghĩ cá nhân, dưới đây là một vài hướng gợi ý: Sự xúc động và biết ơn: Cảm thấy thương xót trước những đôi bàn chân "xương xẩu", những người mẹ, người bà lam lũ để nuôi dạy con cái nên người. Sự suy ngẫm về số phận: Trăn trở về vòng luẩn quẩn của cái nghèo (con gái lại đặt đòn gánh lên vai...) và mong muốn xã hội có những thay đổi để người phụ nữ bớt khổ cực. Trân trọng những giá trị truyền thống: Hình ảnh dòng sông, gánh nước là những biểu tượng văn hóa làng quê, nhắc nhở chúng ta về nguồn cội và những vẻ đẹp khuất lấp trong sự nhọc nhằn.
Câu 1. - Thể thơ: thơ tự do Câu 2. -Các phương thức biểu đạt: Biểu cảm Tự sự Miêu tả Câu 3.
-Tác dụng của việc lặp dòng thơ: +Nhấn mạnh sự kéo dài triền miên của thời gian (năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm năm, nửa đời). +Làm nổi bật số phận lam lũ, vất vả, lặp lại của những người đàn bà gánh nước. +Gợi cảm xúc xót xa, ám ảnh về cuộc đời họ. Câu 4. - Đề tài:Người phụ nữ lao động nghèo ven sông -Chủ đề:Ca ngợi và đồng cảm với cuộc đời vất vả, nhọc nhằn, hi sinh thầm lặng của người phụ nữ; Đồng thời phản ánh vòng luẩn quẩn của nghèo khó và số phận. Câu 5. Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc về số phận con người, đặc biệt là những người phụ nữ lao động nghèo. Họ phải gánh trên vai không chỉ là nước mà còn là cả cuộc đời vất vả, nhọc nhằn kéo dài qua năm tháng. Hình ảnh ấy khiến em cảm thấy xót xa và trân trọng hơn những hi sinh thầm lặng của họ. Đồng thời, bài thơ cũng cho thấy sự lặp lại của số phận qua các thế hệ, khi những đứa trẻ lại tiếp tục con đường của cha mẹ. Từ đó, em nhận ra cần biết yêu thương, chia sẻ và có trách nhiệm hơn với những con người kém may mắn trong xã hội.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, số chữ mỗi dòng không đều, nhịp thơ linh hoạt, giàu cảm xúc và tính biểu tượng.
Câu 2.
Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ gồm:
Câu 3.
Việc lặp lại hai lần câu thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:
Câu 4.
Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại của người lao động, đồng thời bày tỏ niềm thương cảm trước số phận cơ cực và vòng luẩn quẩn của đói nghèo truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; qua đó gợi suy tư về cuộc sống con người và khát vọng đổi thay.
Câu 5.
Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời và con người. Em thấu hiểu hơn nỗi vất vả, nhọc nhằn của những người lao động nghèo, đặc biệt là người phụ nữ tảo tần, chịu thương chịu khó. Bài thơ cũng khiến em day dứt trước vòng luẩn quẩn của đói nghèo khi số phận dường như lặp lại qua nhiều thế hệ. Từ đó, em càng trân trọng giá trị của lao động, biết yêu thương, sẻ chia với những mảnh đời khó khăn và nhận ra cần sống có trách nhiệm hơn để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp, công bằng hơn.
Câu 1. Thể thơ
Thể thơ tự do Không theo số chữ, không gieo vần cố định Câu 2. Phương thức biểu đạt Biểu cảm (chính) Miêu tả Tự sự Câu 3. Tác dụng của điệp câu “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” Nhấn mạnh sự lặp lại kéo dài theo thời gian Thể hiện cuộc sống lam lũ, vất vả của người dân Gợi cảm xúc xót xa, trăn trở của tác giả Làm nổi bật tính liên tục qua nhiều thế hệ Câu 4. Đề tài và chủ đề Cuộc sống của những người dân lao động ven sông (đặc biệt là phụ nữ) Ca ngợi, đồng thời bày tỏ sự xót thương trước cuộc sống nhọc nhằn, luẩn quẩn, lặp lại qua nhiều thế hệ Gợi suy ngẫm về số phận con người và ước mơ chưa trọn vẹn Câu 5. Suy nghĩ của em (viết ngắn Bài thơ khiến em cảm thấy thương xót cho những người phụ nữ gánh nước với cuộc sống vất vả, nhọc nhằn kéo dài qua nhiều năm tháng. Họ không chỉ chịu cực khổ mà còn gánh trên vai cả cuộc đời và số phận. Đồng thời, bài thơ cũng làm em suy nghĩ về sự lặp lại của cuộc sống nghèo khó qua các thế hệ, khi con cái lại tiếp tục con đường của cha mẹ. Từ đó, em nhận ra cần trân trọng cuộc sống hiện tại và cố gắng học tập để thay đổi tương lai của bản thân
Câu 1.
→ Thể thơ: thơ tự do (không bị ràng buộc số câu, số chữ, nhịp điệu linh hoạt).
Câu 2.
→ Các phương thức biểu đạt:
Câu 3.
→ Tác dụng của việc lặp:
Câu 4.
Câu 5.
Bài thơ khiến em suy nghĩ về cuộc sống vất vả của người dân lao động ven sông, đặc biệt là người phụ nữ âm thầm gánh vác gia đình. Qua đó, em cảm nhận được sự khắc nghiệt của cuộc đời và vòng lặp số phận qua nhiều thế hệ. Bài thơ cũng nhắc nhở em biết trân trọng cuộc sống hiện tại và cảm thông hơn với những con người còn nhiều khó khăn.
Câu 1. Thể thơ
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do
Câu 2.
Các phương thức biểu đạt chính:
- Biểu cảm
- Miêu tả
- Tự sự
Câu 3.
Việc lặp lại câu:
"Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy"
Có tác dụng nhấn mạnh sự quan sát của tác giả, khắc sâu hình ảnh người phụ nữ gánh nước như vòng lặp cuộc đời gợi hình ảnh lam lũ, vất vả, tạo nhịp điệu suy tư trầm lắng
Câu 4.
Đề tài: Cuộc sống lao động của người dân làng chài, đặc biệt là người phụ nữ
Chủ đề:→ Ca ngợi sự tần tảo, chịu thương chịu khó của người phụ nữ
→ Đồng thời thể hiện niềm xót xa, trăn trở trước cuộc đời nghèo khó, lặp lại qua nhiều thế hệ
Câu 5.
Bài thơ khiến em cảm nhận sâu sắc về hình ảnh người phụ nữ nông thôn lam lũ, vất vả. Họ gánh trên vai không chỉ là nước mà còn là cả cuộc đời nhọc nhằn. Qua đó, em thấy trân trọng hơn sự hi sinh thầm lặng của mẹ, của những người phụ nữ xung quanh mình. Đồng thời, bài thơ cũng khiến em suy nghĩ về những số phận nghèo khó vẫn còn tồn tại, từ đó nhắc nhở bản thân phải biết sống có trách nhiệm, cố gắng học tập để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Bài thơ: Những người đàn bà gánh nước sông – Nguyễn Quang Thiều, 1992
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.
Thể thơ tự do.
Câu 2.
Có 3 phương thức biểu đạt chính:
Miêu tả: Tả hình ảnh người đàn bà gánh nước: “ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra”, “bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt”.
Biểu cảm: Bày tỏ nỗi xót xa, thương cảm, trăn trở trước số phận con người: “Sông gục mặt vào bờ đất lẩn đi”, “cá thiêng quay mặt khóc”.
Tự sự: Kể lại hành trình lặp đi lặp lại của các thế hệ: mẹ gánh nước, con gái lại gánh nước, con trai lại vác cần câu ra đi.
Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì?
Tác dụng:
Nhấn mạnh sự trường tồn, lặp lại của kiếp sống lam lũ, nhọc nhằn. Thời gian đằng đẵng 5 năm, 15 năm, 30 năm… cho thấy nỗi cơ cực đã thành vòng đời, thành định mệnh.
Tạo nhịp điệu trầm buồn, ám ảnh cho bài thơ, như tiếng thở dài của tác giả trước hiện thực.
Thể hiện chiều sâu suy tư, chiêm nghiệm của nhân vật trữ tình. Đó không phải cái nhìn thoáng qua mà là sự chứng kiến cả “nửa đời” người, đủ để nhận ra quy luật nghiệt ngã của đời sống.
Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.
Đề tài: Số phận con người lao động nghèo khổ ở làng quê ven sông, đặc biệt là người phụ nữ.
Chủ đề: Bài thơ thể hiện niềm xót thương sâu sắc trước vòng luẩn quẩn của kiếp người: người phụ nữ cả đời gánh gồng, người đàn ông ôm mộng lớn nhưng thất bại. Qua đó tác giả bày tỏ nỗi trăn trở về sự bế tắc, nghèo đói truyền từ đời này sang đời khác và khát vọng phá vỡ cái vòng lặp nghiệt ngã ấy.
Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì?
Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ:
Thương cảm và biết ơn: Thương những người mẹ, người bà cả đời lam lũ “gánh nước sông” để nuôi gia đình. Từ đó biết trân trọng hơn những gì mình đang có.
Trăn trở về sự bế tắc của kiếp nghèo: Hình ảnh “con gái lại đặt đòn gánh lên vai”, “con trai lại vác cần câu” cho thấy vòng lặp nghèo đói. Điều này thôi thúc mỗi người phải học tập, lao động để thoát nghèo, thay đổi số phận.
Nhận thức về giá trị của quê hương: Dù nghèo khó nhưng quê hương với dòng sông, với những con người tảo tần vẫn là cội nguồn neo giữ tâm hồn. Cần có trách nhiệm với mảnh đất đã nuôi mình khôn lớn.
Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên.
• Trả lời: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
• Dấu hiệu: Các dòng thơ có độ dài không bằng nhau
Câu 2: Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.
Bài thơ có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương thức:
• Biểu cảm: Bộc lộ cảm xúc, sự trân trọng và xót xa của tác giả trước cuộc đời những người phụ nữ.
• Miêu tả: Khắc họa hình ảnh đôi bàn chân "xương xẩu", "ngón đen toẽ ra", hình ảnh gánh nước, dòng sông...
• Tự sự: Kể về vòng lặp cuộc đời từ đời mẹ sang đời con, con gái lại gánh nước, con trai lại đi câu.
Câu 3: Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì?
Việc lặp lại này (điệp ngữ) có các tác dụng sau:
• Về cấu trúc: Tạo nhịp điệu chậm rãi, kéo dài như dòng chảy của thời gian và dòng nước sông.
• Về nội dung: * Nhấn mạnh sự quan sát bền bỉ, ám ảnh của tác giả về thân phận người phụ nữ.
• Khẳng định tính chất vĩnh cửu, không thay đổi của sự vất vả, lam lũ. Đó không phải là chuyện ngày một ngày hai mà là cả một kiếp người, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Câu 4: Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.
• Đề tài: Người phụ nữ và cuộc sống lao động ở làng quê Việt Nam.
• Chủ đề: Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp chịu thương chịu khó, sự hy sinh thầm lặng của những người phụ nữ vùng đồng bằng Bắc Bộ; đồng thời thể hiện nỗi suy tư về sự truyền nối của kiếp người và những thân phận lam lũ trong dòng chảy vô tận của thời gian.
Câu 5: Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì?
Đây là câu hỏi mở, bạn có thể tham khảo các ý sau:
• Sự thấu hiểu và lòng biết ơn: Cảm thấy xúc động trước hình ảnh những người mẹ, người bà đã dùng cả "nửa đời người" gánh vác sự sống cho gia đình qua những gánh nước sông đơn sơ.
• Nỗi xót xa về sự nghèo khó: Suy nghĩ về sự khắc nghiệt của số phận khi cái nghèo và sự vất vả dường như trở thành một "vòng lặp" khó thoát ra (con gái lại gánh nước, con trai lại vác cần câu).
• Sức sống bền bỉ: Hình ảnh đôi bàn chân "toẽ ra như móng chân gà mái" tuy thô kệch nhưng lại là biểu tượng của sự trụ vững, sức mạnh phi thường để nuôi nấng những "lũ trẻ cởi truồng" lớn lên.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do
Số chữ trong mỗi dòng thơ không bằng nhau
Câu 2.
Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ gồm:
Câu 3.
Việc lặp lại câu thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:
Câu 4.
Câu 5.
Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc. Trước hết là sự xót xa trước hình ảnh những người phụ nữ phải lao động vất vả, gánh nước suốt cả cuộc đời. Cuộc sống của họ không chỉ khó khăn mà còn lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, khiến ta cảm nhận rõ sự nghèo đói và bế tắc. Bên cạnh đó, hình ảnh những đứa trẻ lớn lên rồi tiếp tục con đường của cha mẹ khiến em suy nghĩ về sự thiếu cơ hội để thay đổi số phận. Từ đó, em nhận ra cần trân trọng cuộc sống hiện tại, cố gắng học tập để không rơi vào vòng luẩn quẩn như vậy, đồng thời biết yêu thương, sẻ chia với những con người có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Các phương thức biểu đạt:
Câu 3.
Việc lặp lại câu “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng
Điệp lại câu thơ tạo biện pháp điệp cấu trúc/điệp ngữ, giúp nhịp thơ trở nên dồn dập, ám ảnh, đồng thời tăng tính liên kết giữa các đoạn, làm nổi bật mạch cảm xúc xuyên suốt bài thơ.
Nhấn mạnh dòng thời gian kéo dài (5 năm – 15 năm – 30 năm – nửa đời) mà “tôi” chứng kiến, qua đó làm nổi bật sự lặp lại, bế tắc của cuộc sống lam lũ, gợi nỗi xót xa, trăn trở trước số phận con người gần như không đổi qua nhiều thế hệ.
Câu 4.
Bài thơ khai thác đề tài về cuộc sống của những con người lao động ven sông, đặc biệt là hình ảnh những người phụ nữ gánh nước với bao nỗi nhọc nhằn, vất vả. Qua đó, tác giả thể hiện chủ đề là niềm xót xa, thương cảm trước số phận lam lũ, quẩn quanh của họ khi cuộc sống dường như lặp lại qua nhiều thế hệ mà không có sự đổi thay. Đồng thời, bài thơ còn gợi ra những suy ngẫm sâu sắc về vòng quay nghiệt ngã của đời sống và khát vọng về một sự đổi khác tốt đẹp hơn cho con người.
Câu 5.
Bài thơ gợi cho em suy nghĩ về sự vất vả, hi sinh thầm lặng của những người lao động, đặc biệt là phụ nữ. Cuộc sống của họ dường như lặp lại qua nhiều thế hệ, ít có sự đổi thay. Điều đó khiến em thêm trân trọng những con người bình dị và ý thức hơn về việc phải cố gắng học tập, góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, để không còn những cảnh đời nhọc nhằn như trong bài thơ.
Câu 1. Xác định thể thơ
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do
Câu 2. Phương thức biểu đạt
→ Các phương thức biểu đạt chính:
Câu 3. Tác dụng của việc lặp lại câu thơ
“Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy”
→ Tác dụng:
Câu 4. Đề tài và chủ đề
- Đề tài:
→ Cuộc sống của người dân vùng biển (đặc biệt là phụ nữ gánh nước, đàn ông đi biển)
- Chủ đề:
→ Bài thơ phản ánh cuộc sống lam lũ, vất vả, bế tắc và lặp lại qua nhiều thế hệ của người dân chài, đồng thời bộc lộ niềm xót xa, day dứt của tác giả trước số phận con người.
Câu 5. Suy nghĩ của em
Bài thơ khiến em cảm nhận sâu sắc về cuộc sống vất vả, nhọc nhằn của người dân lao động vùng biển. Những hình ảnh lặp lại qua nhiều thế hệ gợi nên sự bế tắc, thiếu lối thoát, khiến em thấy xót xa và trân trọng hơn những con người lam lũ ấy. Từ đó, em nhận ra cần biết yêu thương, sẻ chia và sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, đặc biệt là những người còn nhiều khó khăn.
Câu 1. Xác định thể thơ
Bài thơ của Nguyễn Quang được viết theo thể thơ tự do.
→ Đặc điểm: không bị ràng buộc số câu, số chữ, vần điệu linh hoạt.
Câu 2. Các phương thức biểu đạt
Bài thơ sử dụng kết hợp:
Câu 3. Tác dụng của việc lặp câu thơ
Câu thơ được lặp lại:
“Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy”
Tác dụng:
Câu 4. Đề tài và chủ đề
Cuộc sống của người dân lao động vùng sông nước, đặc biệt là người phụ nữ.
Bài thơ thể hiện:
Câu 5. Suy nghĩ của em
Bài thơ gợi cho em:
Câu 1 (khoảng 200 chữ)
Phân tích hình tượng người phụ nữ
Hình tượng người phụ nữ trong bài thơ hiện lên đầy ám ảnh qua những chi tiết chân thực và xót xa. Họ là những con người lam lũ, với “ngón chân xương xẩu”, “móng dài và đen”, gợi lên cuộc sống vất vả, thiếu thốn. Công việc gánh nước tưởng chừng bình thường nhưng lại kéo dài suốt nhiều năm, thậm chí “nửa đời”, cho thấy sự cực nhọc triền miên. Không chỉ vậy, họ còn phải gánh trên vai cả gia đình và số phận, khi một tay giữ đòn gánh, tay kia “bám vào mây trắng” – hình ảnh giàu tính biểu tượng cho khát vọng mong manh. Đáng buồn hơn, cuộc đời ấy dường như lặp lại qua các thế hệ: con gái lại tiếp tục gánh nước như mẹ. Qua đó, tác giả thể hiện niềm xót thương sâu sắc trước số phận người phụ nữ và phê phán sự bế tắc của cuộc sống nghèo khổ. Hình tượng ấy khiến người đọc không khỏi suy nghĩ về trách nhiệm thay đổi cuộc đời và xã hội.
Câu 2 (khoảng 600 chữ)
Nghị luận về “burnout” (kiệt sức) của giới trẻ
Trong xã hội hiện đại, “burnout” – hội chứng kiệt sức – đang trở thành vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt ở giới trẻ. Đây là trạng thái mệt mỏi kéo dài cả về thể chất lẫn tinh thần, khiến con người mất động lực học tập và làm việc.
Nguyên nhân của burnout đến từ nhiều phía. Trước hết là áp lực học tập, thi cử và kỳ vọng từ gia đình, xã hội. Nhiều bạn trẻ luôn phải chạy theo thành tích, dẫn đến căng thẳng kéo dài. Bên cạnh đó, việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều khiến họ dễ so sánh bản thân với người khác, từ đó sinh ra cảm giác tự ti, áp lực. Ngoài ra, lối sống thiếu cân bằng giữa học tập – nghỉ ngơi cũng là nguyên nhân quan trọng.
Hậu quả của burnout rất nghiêm trọng. Nó khiến người trẻ mất tập trung, giảm hiệu suất, thậm chí rơi vào trạng thái chán nản, mất phương hướng. Nếu kéo dài, burnout còn ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và tương lai của mỗi người.
Để khắc phục tình trạng này, cần có giải pháp từ cả cá nhân và xã hội. Mỗi bạn trẻ cần học cách quản lý thời gian, cân bằng giữa học tập và nghỉ ngơi. Đồng thời, nên xây dựng lối sống lành mạnh, tập thể dục và hạn chế phụ thuộc vào mạng xã hội. Gia đình và nhà trường cũng cần giảm áp lực, tạo môi trường tích cực để người trẻ phát triển toàn diện.
Burnout không phải là điều không thể vượt qua. Khi hiểu rõ bản thân và biết điều chỉnh, mỗi người trẻ hoàn toàn có thể lấy lại năng lượng và định hướng cho tương lai. Đây cũng là bài học quan trọng giúp chúng ta sống tích cực và bền vững hơn trong cuộc sống hiện đại.
Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên.
• Thể thơ: Tự do. (Các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không tuân theo quy tắc gieo vần hay số chữ cố định).
Câu 2: Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.
Các phương thức biểu đạt chính bao gồm:
• Biểu cảm: Bộc lộ cảm xúc, sự trăn trở của tác giả trước cuộc sống nhọc nhằn.
• Miêu tả: Khắc họa hình ảnh những người đàn bà, những bàn tay, bàn chân, dòng sông...
• Tự sự: Kể về vòng lặp của cuộc đời, từ người mẹ đến những đứa trẻ lớn lên lại tiếp nối công việc ấy.
Câu 3: Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì?
Việc sử dụng biện pháp điệp ngữ/điệp cấu trúc này có các tác dụng sau:
• Về mặt cấu trúc: Tạo nhịp điệu suy tư, nhức nhối cho bài thơ.
• Về nội dung:
• Nhấn mạnh sự ám ảnh của tác giả về hình ảnh những người phụ nữ lao động vất vả.
• Khẳng định tính chất trường cửu, không thay đổi của kiếp người nghèo khó. Thời gian trôi đi (5 năm, 15 năm, 30 năm...) nhưng nỗi vất vả của họ vẫn còn nguyên vẹn.
• Thể hiện cái nhìn thấu cảm, gắn bó sâu sắc của nhân vật "tôi" với quê hương, xứ sở.
Câu 4: Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.
• Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động lam lũ ở làng quê Việt Nam.
• Chủ đề: Bài thơ ca ngợi sự kiên cường, nhẫn nại và đức hy sinh thầm lặng của những người phụ nữ. Đồng thời, tác giả thể hiện niềm xót xa trước vòng lặp của cái nghèo, cái khổ truyền đời từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Câu5
"Trong cuộc sống hiện đại, tinh thần tương thân tương ái đóng vai trò vô cùng quan trọng để kết nối con người. Mỗi hành động nhỏ, từ việc nhường ghế trên xe buýt đến việc tham gia các hoạt động thiện nguyện, đều góp phần lan tỏa hơi ấm tình thương. Chúng ta không chỉ sống cho riêng mình mà còn cần biết sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh. Khi biết cho đi, giá trị bản thân mỗi người sẽ được nâng cao và tâm hồn trở nên thanh thản hơn. Tóm lại, mỗi cá nhân cần có ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng để cùng nhau xây dựng một xã hội văn minh và tốt đẹp hơn."
Câu 1.
→ Thể thơ: thơ tự do.
Câu 2.
→ Các phương thức biểu đạt:
Câu 3.
→ Tác dụng của việc lặp lại câu thơ:
Câu 4.
→ Thể hiện sự cảm thương, xót xa trước cuộc đời lam lũ, cơ cực
→ Đồng thời gợi suy ngẫm về vòng luẩn quẩn của nghèo khó và số phận con người qua các thế hệ
Câu 5.
→ Gợi ý viết (khoảng 5–7 dòng):
Bài thơ khiến em cảm nhận sâu sắc về cuộc sống nhọc nhằn, vất vả của những người phụ nữ lao động nghèo. Họ phải gánh trên vai không chỉ là nước mà còn là cả gánh nặng mưu sinh và số phận. Qua đó, em thấy thương cảm và trân trọng hơn những con người âm thầm hi sinh vì gia đình. Bài thơ cũng khiến em suy nghĩ về sự lặp lại của cuộc đời: những đứa trẻ lớn lên rồi lại tiếp tục con đường của cha mẹ. Từ đó, em nhận ra cần biết cố gắng học tập để thay đổi tương lai và sống có trách nhiệm hơn.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do (không bó buộc số câu, số chữ, nhịp điệu linh hoạt).
Câu 2.
Các phương thức biểu đạt được sử dụng gồm:
Câu 3.
Việc lặp lại câu: “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:
Câu 4.
Câu 5.
Bài thơ gợi nhiều suy nghĩ:
Thể thơ: Tự do (các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không gò bó về số chữ hay vần luật).
Câu 2.Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.
Kết hợp với: Tự sự (kể về sự luân hồi của các kiếp người bên dòng sông) và Miêu tả (hình ảnh con cá, lũ trẻ, người đàn bà gánh nước...).
Câu 3.Nhấn mạnh sự ám ảnh: Cho thấy những hình ảnh, sự việc đó diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại suốt một thời gian dài trong tâm trí tác giả.
Tạo nhịp điệu: Làm tăng tính nhạc, tạo sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại.
Khẳng định sự quan sát chiêm nghiệm: Thể hiện cái nhìn đau đáu, sâu sắc của tác giả về sự vận động và những nỗi đau âm thaaucaaugu
Câu 4
Đề tài: Bài thơ viết về đề tài quê hương, cụ thể là cuộc sống lam lũ, nhọc nhằn của những con người nghèo khổ bên dòng sông quê (hình ảnh dòng sông Đáy quen thuộc trong thơ Nguyễn Quang Thiều).
Chủ đề: Thông qua việc tái hiện những hình ảnh đau xót và sự nối tiếp của các thế hệ trong cảnh nghèo khó, bài thơ thể hiện niềm thương cảm sâu sắc, nỗi trăn trở khôn nguôi của tác giả trước những thân phận con người bé nhỏ và sự tổn thương của những giá trị thiêng liêng trước thực tại đời sống nghiệt ngã.
Câu 5
Câu 1 Thể thơ tự do các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau không gò bó về số chữ
Câu 2 Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm
Câu3 Tạo nhịp điệu Giúp bài thơ có sự kết nối như một lời kể lặp đi lặp lại đầy trăn trở
Nhấn mạnh thời gian Khẳng định sự quan sát bền bỉ lâu dài của tác giả đối với cuộc sống quê hương
Nhấn mạnh sự ám ảnh Cho thấy những hình ảnh về người phụ nữ gánh nước người đàn ông đi câu đã in sâu vào tâm trí trở thành một phần không thể thiếu trong kí ức và cuộc đời tác giả
Câu 4 ddeef taif cuộc sống sinh hoạt của những con người ở làng quê nghèo bên dòng sông.
Chủ đề Bài thơ thể hiện sự trân trọng, niềm thương cảm và nỗi ám ảnh của tác giả trước cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ của những người dân quê (đặc biệt là người phụ nữ) và sự nối tiếp các thế hệ trong cái nghèo khó nhưng đầy nghị lực
Câu 5
Bài thơ gợi cho em niềm xúc động nghẹn ngào trước hình ảnh những người phụ nữ lam lũ bên dòng sông quê hương. Những chi tiết tả thực về ngoại hình 'xương xẩu' 'móng dài và đen' không làm họ xấu đi mà trái lại, càng làm tôn lên sự hy sinh vĩ đại của người phụ nữ trong việc gánh vác cuộc đời. Em nhận ra rằng, đằng sau sự trưởng thành của mỗi người là cả một cuộc đời 'nửa đời tôi thấy' đầy nhọc nhằn của thế hệ đi trước ddồng thời bài thơ cũng gieo vào lòng em một nỗi trăn trở về tương lai, thôi thúc em phải nỗ lực học tập để những đòn gánh nhọc nhằn ấy không còn là gánh nặng duy nhất trên vai những người phụ nữ Việt Nam