K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4.0 điểm) Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:

             Những người đàn bà gánh nước sông

Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông

Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt
Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi
Bàn tay kia bám vào mây trắng

Sông gục mặt vào bờ đất lần đi
Những người đàn ông mang cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Những con cá thiêng quay mặt khóc
Những chiếc phao ngô chết nổi
Những người đàn ông giận dữ, buồn bã và bỏ đi

Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy
Sau những người đàn bà gánh nước sông là lũ trẻ cởi truồng
Chạy theo mẹ và lớn lên
Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến
Con trai lại vác cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Và cá thiêng lại quay mặt khóc
Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi.

                                                                1992

                                                  - Nguyễn Quang Thiều -

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. 

Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” trong bài có tác dụng gì?

Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì?

133

Câu1 thể thơ tự do

Câu 2 phương thức biểu đạt chính là biểu cảm xúc tâm tư của tác giả ngoài ra bài thơ cảm xúc nốt hợp với phương thức tự sư kế lại những trải nghiệm quan sát và miêu tả hình ảnh những lời câu dòng sông

Câu 3 tác dụng của điệp ngữ việt lặp lại hai dòng đà nằm năm mười lăm năm là mươi lăm và nửa đời tôi thấy có tác dụng cho nhấm mạch sự bền bỉ kèo dài của thời và sự ám ảnh khơ nguôi trong tâm trí tác giả tạo nghịp điệu da diết xoáy sâu vào cảm xác về nỗi dục hoặc một sự thật hiểu nhiên mà tác giả đã chứng kiếm suất nửa đời người khẳng định tính xác thực và chiều sâu của những chiêm nghiệm mà nhà thơ nhấn truyền tải

Câu4đề tài: Viết về những chiêm nghiệm cuộc sống, sự thức tỉnh trước nỗi đau hoặc thực tại khắc nghiệt (thông qua hình ảnh những lưỡi câu và con cá) Thể chủ đề hiện sự đồng cảm với nỗi đau, sự thức tỉnh về lương tâm và lòng trắc ẩn của con người trước những tổn thương mà thế giới xung quanh phải gánh chịu.

  • Câu 5 suy nghĩ cá nhân : Bài thơ gợi lên suy nghĩ về sự thấu cảm. Con người cần có cái nhìn sâu sắc hơn về nỗi đau của vạn vật xung quanh, từ đó biết trân trọng sự sống và sống nhân văn hơn, tránh xa những hành động vô tâm có thể gây ra tổn thương kéo dài
18 tháng 4

BÀI LÀM

Phần I: Đọc hiểu

Văn bản: Những người đàn bà gánh nước sông (Nguyễn Quang Thiều)

Câu 1:

  • Thể thơ của bài thơ trên là: Thể thơ tự do.

Câu 2:

  • Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ là: Biểu cảm (phương thức chính), kết hợp với miêu tảtự sự.

Câu 3: Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:

  • Về nghệ thuật: Tạo nên cấu trúc điệp, làm cho âm hưởng bài thơ trở nên da diết, xoáy sâu vào tâm trí người đọc. Nó tạo ra một sự kết nối, nhất quán giữa các phần của bài thơ.
  • Về nội dung:
    • Nhấn mạnh sự trôi chảy dai dẳng, mênh mông của thời gian.
    • Khẳng định sự bền bỉ, lặp đi lặp lại một cách đáng thương của những kiếp người, những số phận lam lũ bên dòng sông. Sự nhọc nhằn đó không phải ngày một ngày hai mà là cả một đời người, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
    • Cho thấy sự quan sát, chiêm nghiệm sâu sắc và nỗi ám ảnh khôn nguôi của tác giả trước cuộc sống nghèo khó của quê hương.

Câu 4:

  • Đề tài: Bài thơ viết về đề tài làng quê, cụ thể là hình ảnh những người phụ nữ lao động nghèo khó ở nông thôn Việt Nam gắn liền với dòng sông.
  • Chủ đề: Bài thơ thể hiện niềm cảm thông, trắc ẩn sâu sắc của tác giả trước những số phận con người (đặc biệt là người phụ nữ) nhọc nhằn, lam lũ và sự tiếp nối của sự nghèo khó, vô vọng qua các thế hệ.
  • Câu 5
  • Bài thơ "Những người đàn bà gánh nước sông" gợi cho em nhiều suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc. Trước hết, em cảm thấy trân trọng và xót xa khôn tả trước hình ảnh những người phụ nữ Việt Nam tần tảo, hy sinh. Những chi tiết miêu tả đôi bàn chân "xương xẩu", móng "đen toé ra" như móng chân gà mái là một hình ảnh đầy ám ảnh, bóc trần sự vất vả cực nhọc để đổi lấy nguồn nước nuôi sống gia đình. Bên cạnh đó, bài thơ còn khơi dậy trong em nỗi buồn và sự trăn trở về cái vòng quẩn quanh của nghèo khó. Hình ảnh "con gái lại đặt đòn gánh lên vai", "con trai lại vác cần câu" cho thấy những thế hệ sau lại tiếp tục bước vào lối mòn của cha mẹ, một sự lặp lại số phận đầy bi kịch. Cuối cùng, tác phẩm nhắc nhở em phải biết trân trọng cuộc sống hiện tại, sống có trách nhiệm hơn và giữ cho mình một tấm lòng nhân hậu, biết sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh, lam lũ trong xã hội.


21 tháng 4

Câu 1. - Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. Các câu thơ có độ dài ngắn khác nhau, không bị gò bó bởi niêm luật hay vần điệu cứng nhắc, giúp tác giả bộc lộ cảm xúc một cách tự nhiên và ám ảnh. Câu 2. - Các phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự. + Biểu cảm: Thể hiện nỗi xót xa, suy tư về thân phận con người. + Miêu tả: Hình ảnh những ngón chân xương xẩu, bối tóc vỡ, mây trắng... + Tự sự: Kể về vòng lặp của những kiếp người bên dòng sông. Câu 3. -Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ "Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy" được lặp lại hai lần nhằm: - Về nội dung: Nhấn mạnh sự chảy trôi của thời gian và tính chất bền bỉ, nhẫn nhịn của những người đàn bà. Nó cho thấy cái nghèo khó, vất vả không phải là nhất thời mà là sự đeo bám dai dẳng qua nhiều thế hệ. - Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu ám ảnh, như một lời khẳng định về một sự thật hiển nhiên nhưng đau đớn mà tác giả đã chứng kiến suốt cả đời người. Nó kết nối quá khứ với hiện tại, làm nổi bật sự bế tắc của vòng lặp số phận. Câu 4. - Đề tài: Viết về đời sống của những người dân lao động nghèo khổ ở vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, gắn liền với hình ảnh dòng sông. - Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự xót xa trước kiếp nhân sinh cơ cực, quẩn quanh của con người (người đàn bà vất vả với gánh nặng mưu sinh, người đàn ông với những giấc mơ xa vời, vô vọng). Qua đó, tác giả bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc và suy tư về việc làm sao để thoát khỏi vòng lặp khổ đau ấy. Câu 5. - Suy nghĩ sau khi đọc bài thơ - Bài thơ để lại trong lòng người đọc nhiều suy ngẫm về số phận và sự tiếp nối: + Sự ám ảnh về cái nghèo: Hình ảnh "những ngón chân móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái" là một chi tiết thực đến gai người, gợi lên sự vất vả, lam lũ tận cùng của người phụ nữ Việt Nam xưa.

+ Vòng lặp định mệnh: Điều đau lòng nhất là sự lặp lại. Con gái lại gánh nước, con trai lại vác cần câu với những "cơn mơ biển" không thành. Nó gợi suy nghĩ về sự bế tắc khi con người ta không có lối thoát để thay đổi cuộc đời, cứ thế lớn lên và lặp lại bi kịch của cha mẹ. + Sự thức tỉnh: Bài thơ không chỉ là lời than thân trách phận mà còn là một hồi chuông đánh thức sự trắc ẩn. Nó nhắc nhở chúng ta cần nhìn sâu vào những mảnh đời nhỏ bé quanh mình và khao khát về một sự thay đổi mạnh mẽ hơn để thế hệ trẻ (lũ trẻ cởi truồng) có một tương lai khác đi, không còn "ngơ ngác" trước những lưỡi câu cuộc đời.

22 tháng 4

Câu 1:

Thể thơ tự do (không bị ràng buộc số câu, số chữ, vần nhịp linh hoạt).


Câu 2:

→ Phương thức biểu đạt: tự sự + miêu tả + biểu cảm.


Câu 3:

→ Tác dụng của việc lặp câu:


  • Nhấn mạnh thời gian dài đằng đẵng (5 năm, 15 năm, 30 năm, nửa đời).
  • Thể hiện sự chứng kiến bền bỉ, ám ảnh của tác giả.
  • Gợi nỗi xót xa, day dứt trước cuộc sống lam lũ lặp lại qua nhiều thế hệ.


Câu 4:


  • Đề tài: Cuộc sống của những người dân làng chài (đặc biệt là người phụ nữ gánh nước sông).
  • Chủ đề: Ca ngợi sự nhọc nhằn, hi sinh của người lao động, đồng thời bộc lộ nỗi buồn, trăn trở về vòng đời lam lũ, lặp lại qua các thế hệ.


Câu 5:

→ Gợi suy nghĩ:


  • Thấu hiểu, cảm thông với cuộc sống vất vả của người dân lao động.
  • Nhận ra sự lặp lại nghiệt ngã của số phận qua các thế hệ.
  • Biết trân trọng lao động, yêu thương con người và mong muốn cuộc sống tốt đẹp hơn.

Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên. Thể thơ: Tự do (Số chữ trong mỗi dòng không cố định, nhịp điệu linh hoạt theo cảm xúc). Câu 2. Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. Các phương thức kết hợp: Tự sự (kể về hành động gánh nước, đi câu) và Miêu tả (hình ảnh ngón chân, búi tóc, mây trắng...). Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” trong bài có tác dụng gì? Tạo nhịp điệu: Nhấn mạnh sự lặp đi lặp lại của thời gian, tạo âm hưởng ám ảnh. Nhấn mạnh sự bền bỉ: Khẳng định sự tồn tại lâu dài, bền bỉ của những kiếp người lam lũ. Hình ảnh người phụ nữ gánh nước không chỉ là một khoảnh khắc mà là cả một đời người, một số phận gắn liền với dòng sông. Bộc lộ cảm xúc: Thể hiện cái nhìn đau đáu, sự quan sát tỉ mỉ và niềm xót xa của tác giả trước cuộc sống nhọc nhằn của người dân quê hương. Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ. Đề tài: Viết về người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khổ ở làng quê. Chủ đề: Bài thơ ca ngợi sự hy sinh, sức chịu đựng bền bỉ của những người phụ nữ, đồng thời phản ánh vòng lặp nghèo khó, đơn điệu của những kiếp người nhỏ bé trong xã hội cũ/nông thôn nghèo. Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì? Sự thấu hiểu và xót xa: Cảm nhận sâu sắc nỗi vất vả, lam lũ của những người phụ nữ (hình ảnh ngón chân "xương xẩu", "toẽ ra như móng chân gà mái" rất thực và đau đớn). Trân trọng những giá trị bình dị: Biết ơn sự hy sinh thầm lặng của những người mẹ, người chị đã gánh vác cả gia đình trên vai. Suy tư về định mệnh/vòng quẩn quanh: Cảm thấy buồn thương trước sự nối tiếp của các thế hệ (con gái lại đặt đòn gánh, con trai lại vác cần câu), gợi sự trăn trở về việc làm sao để thoát khỏi sự nghèo khó, đơn điệu đó.

Câu 1:

Thể thơ: Tự do

Câu 2: Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm

Câu 3:

Việc sử dụng điệp ngữ này có các tác dụng sau:

Tạo nhịp điệu chậm rãi, ám ảnh và kết nối các phần của bài thơ.

Nhấn mạnh dòng thời gian đằng đẵng, bền bỉ và sự quan sát kiên trì của tác giả.

Khẳng định tính chất "truyền đời", không thay đổi của những kiếp người lam lũ. Đó là một nỗi đau, một sự vất vả kéo dài từ quá khứ đến hiện tại.

Câu 4:

Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khó ở làng quê.

Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự thấu cảm sâu sắc đối với số phận vất vả, lam lũ của những người đàn bà vùng sông nước. Qua đó, tác giả suy ngẫm về sự nối tiếp của cái nghèo, sự nhọc nhằn từ thế hệ này sang thế hệ khác (từ mẹ sang con).

Câu 5: Cảm thấy xúc động trước hình ảnh những người bà, người mẹ đã hy sinh cả cuộc đời, chịu đựng gian khổ (hình ảnh "ngón chân xương xẩu", "móng chân gà mái") để nuôi dạy con cái.Cảm giác buồn thương khi thấy sự nghèo khó có tính chất tiếp nối Bài thơ nhắc nhở chúng ta về những giá trị truyền thống và sự nhẫn nại của con người Việt Nam trước nghịch cảnh.


23 tháng 4

Câu 1:

Xác định thể thơ của bài thơ trên.

• Thể thơ: Tự do (số chữ trong các dòng không bằng nhau, nhịp điệu linh hoạt theo cảm xúc).

Câu 2:

Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.

• Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc, suy ngẫm của tác giả).

• Các phương thức kết hợp: Miêu tả (khắc họa hình ảnh người đàn bà, đôi bàn chân, dòng sông...) và Tự sự (kể về sự nối tiếp của các thế hệ).

Câu 3:

Việc lặp lại hai lần dòng thơ "Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy" có tác dụng gì?

Việc sử dụng điệp ngữ này có các tác dụng sau:

• Về cấu trúc: Tạo nhịp điệu chậm rãi, ám ảnh và kết nối các phần của bài thơ.

• Về nội dung: * Nhấn mạnh dòng thời gian đằng đẵng, bền bỉ và sự quan sát kiên trì của tác giả.

• Khẳng định tính chất "truyền đời", không thay đổi của những kiếp người lam lũ. Đó là một nỗi đau, một sự vất vả kéo dài từ quá khứ đến hiện tại.

Câu 4:

Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

• Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khó ở làng quê.

• Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự thấu cảm sâu sắc đối với số phận vất vả, lam lũ của những người đàn bà vùng sông nước. Qua đó, tác giả suy ngẫm về sự nối tiếp của cái nghèo, sự nhọc nhằn từ thế hệ này sang thế hệ khác (từ mẹ sang con).

Câu 5:

Bài thơ gợi cho em những suy nghĩ gì?

Bạn có thể trình bày suy nghĩ cá nhân dựa trên các ý chính sau:

• Sự biết ơn và thấu hiểu: Cảm thấy xúc động trước hình ảnh những người bà, người mẹ đã hy sinh cả cuộc đời, chịu đựng gian khổ (hình ảnh "ngón chân xương xẩu", "móng chân gà mái") để nuôi dạy con cái.

• Nỗi trăn trở về số phận: Cảm giác buồn thương khi thấy sự nghèo khó có tính chất tiếp nối ("Con gái lại đặt đòn gánh lên vai...").

• Giá trị của nguồn cội: Bài thơ nhắc nhở chúng ta về những giá trị truyền thống và sự nhẫn nại của con người Việt Nam trước nghịch cảnh.

23 tháng 4

Câu 1.
→ Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
→ Các phương thức biểu đạt:

  • Miêu tả (hình ảnh người đàn bà, dòng sông, cảnh lao động…)
  • Tự sự (kể về sự lặp lại của cuộc sống qua thời gian)
  • Biểu cảm (bộc lộ nỗi xót xa, suy tư của tác giả)

Câu 3.
→ Tác dụng của việc lặp lại câu thơ:

  • Nhấn mạnh sự trôi chảy dài lâu của thời gian
  • Gợi lên sự lặp lại, vòng luẩn quẩn của cuộc đời
  • Thể hiện nỗi ám ảnh, trăn trở của tác giả trước số phận con người
  • Làm tăng nhịp điệu và chiều sâu cảm xúc cho bài thơ

Câu 4.

  • Đề tài: Cuộc sống lao động của những người dân nghèo ven sông.
  • Chủ đề:
    → Phản ánh cuộc đời cơ cực, bế tắc và lặp lại qua nhiều thế hệ
    → Thể hiện niềm xót thương và suy tư của tác giả về số phận con người và những ước mơ không trọn vẹn

Câu 5.
→ Bài thơ gợi cho em:

  • Sự cảm thông với những con người lao động nghèo, vất vả
  • Nhận ra cuộc sống có thể lặp lại nếu con người không thay đổi hoàn cảnh
  • Thấy được những ước mơ giản dị nhưng khó thực hiện của họ
  • Từ đó biết trân trọng cuộc sống, cố gắng học tập để vươn lên và thay đổi tương lai
23 tháng 4

Câu 1: Thể thơ Tự do. Câu 2: Các phương thức biểu đạt: Biểu cảm kết hợp với tự sự và miêu tả. Câu 3: Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ "Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy": Về nội dung: Nhấn mạnh sự bền bỉ, kiên nhẫn nhưng cũng đầy cam chịu của người phụ nữ trong vòng quay nhọc nhằn của cuộc đời. Nó cho thấy cái nghèo khổ, vất vả không phải là nhất thời mà kéo dài dằng dặc qua nhiều thế hệ. Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu ám ảnh, tính nhạc cho bài thơ và khẳng định cái nhìn chiêm nghiệm, xót xa của tác giả trước hiện thực đời sống. Câu 4: Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động nghèo khó. Chủ đề: Sự hy sinh thầm lặng, số phận nhọc nhằn, quẩn quanh của người phụ nữ trong bối cảnh cuộc sống khắc nghiệt và sự tiếp nối đầy bi kịch của các thế hệ. Câu 5: Suy nghĩ gợi ra từ bài thơ: Sự xúc động và biết ơn trước sự hy sinh vô điều kiện của những người phụ nữ (người mẹ, người chị). Trăn trở về cái nghèo và sự quẩn quanh: Làm sao để những thế hệ sau (lũ trẻ) thoát khỏi "vòng lặp" của đòn gánh và những cơn mơ xa vời để có cuộc đời tươi sáng hơn. Nhận thức về trách nhiệm của bản thân trong việc trân trọng các giá trị gia đình và nỗ lực thay đổi nghịch cảnh.

24 tháng 4

em chịu

24 tháng 4

Câu 1

Thể thơ của căn bản trên là Tự do.

Câu 2.

Các phương thức biểu đạt bao gồm: Biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự.

Câu 3.

Tác dụng của việc lặp lại dòng thơ:

• Về nội dung: Nhấn mạnh dòng chảy của thời gian đằng đẵng và sự quan sát bền bỉ, ám ảnh của tác giả đối với cuộc sống lam lũ của người dân quê hương. Nó cho thấy những hình ảnh ấy không phải là khoảnh khắc nhất thời mà là một phần máu thịt trong ký ức của nhân vật tôi.

• Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu cho bài thơ, như một lời khẳng định về sự lặp đi lặp lại của những kiếp người, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các phần của văn bản.

Câu 4.

• Đề tài: Viết về người phụ nữ và cuộc sống lao động ở vùng nông thôn Việt Nam.

• Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự trân trọng, thấu hiểu và niềm xót xa trước cuộc đời lam lũ, nhọc nhằn nhưng đầy đức hy sinh của những người phụ nữ. Qua đó, tác giả bộc lộ tình yêu quê hương và sự trăn trở về sự tiếp nối của những kiếp người trong vòng xoáy nghèo khó của làng quê.

Câu 5.

Bài thơ gợi lên trong lòng người đọc sự xúc động sâu sắc về vẻ đẹp của những con người lao động bình dị. Hình ảnh những người đàn bà gánh nước với đôi chân xương xẩu là biểu tượng cho sự tần tảo, chịu thương chịu khó của người phụ nữ Việt Nam qua nhiều thế hệ. Đồng thời, tác phẩm cũng nhắc nhở chúng ta về lòng biết ơn đối với những hy sinh thầm lặng của mẹ, của bà để nuôi dưỡng các thế hệ con cháu trưởng thành. Qua đó, mỗi người cần có ý thức trân trọng những giá trị truyền thống và có trách nhiệm hơn với gia đình, quê hương.


24 tháng 4

Câu 1. Bài thơ tren được viết theo: the thơ tự do.

Câu 2. Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ:

  • Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của tác giả).
  • Miêu tả (khắc họa hình ảnh người đàn bà gánh nước sông, cuộc sống làng quê).
  • Tự sự (kể lại vòng đời, sự nối tiếp của các thế hệ).

Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:

  • Nhấn mạnh sự trôi chảy của thời gian dài đằng đẵng.
  • Thể hiện sự quan sát, chứng kiến bền bỉ của tác giả trước cuộc sống lam lũ nơi quê hương.
  • Gợi vòng quay lặp lại của số phận con người qua nhiều thế hệ.
  • Tạo nhịp điệu trầm lắng, da diết cho bài thơ.

Câu 4.

  • Đề tài: Cuộc sống lao động của người dân quê ven sông.
  • Chủ đề: Ca ngợi sự tần tảo, nhọc nhằn của người phụ nữ nông thôn; đồng thời bày tỏ niềm xót xa trước cuộc sống cơ cực, bế tắc và sự lặp lại của số phận con người nơi làng quê nghèo.

Câu 5. Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ về cuộc sống vất vả của người lao động nghèo, nhất là người phụ nữ nông thôn. Qua đó, em thêm trân trọng sự hi sinh thầm lặng của họ, biết yêu thương gia đình, quý trọng giá trị lao động và mong muốn cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp hơn.


24 tháng 4

Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên. Thể thơ: Tự do. (Các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không gò bó về số chữ hay vần điệu). Câu 2: Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. Các phương thức kết hợp: Miêu tả (tả hình dáng người đàn bà, đôi bàn tay, bước chân...) và Tự sự (kể về sự nối tiếp của các thế hệ). Câu 3: Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì? Việc sử dụng điệp ngữ và điệp cấu trúc này có các tác dụng sau: Về nội dung: Nhấn mạnh sự trôi chảy của thời gian và sự bền bỉ, nhẫn nại của những người phụ nữ. Nó cho thấy cái nghèo khó, vất vả không phải là nhất thời mà kéo dài dằng dặc từ đời này sang đời khác. Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu ám ảnh, day dứt cho bài thơ; đồng thời khẳng định sự quan sát kỹ lưỡng và nỗi xúc động sâu sắc của tác giả trước số phận những người phụ nữ quê hương. Câu 4: Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ. Đề tài: Viết về những người phụ nữ lao động ở làng quê Việt Nam (hình ảnh người bà, người mẹ bên dòng sông). Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự thấu cảm, trân trọng đối với sự hy sinh thầm lặng, nỗi vất vả gian truân của người phụ nữ, đồng thời phản ánh vòng lặp của số phận và niềm hy vọng mong manh nơi làng quê. Câu 5: Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì? Bạn có thể trình bày theo suy nghĩ cá nhân, dưới đây là một vài hướng gợi ý: Sự xúc động và biết ơn: Cảm thấy thương xót trước những đôi bàn chân "xương xẩu", những người mẹ, người bà lam lũ để nuôi dạy con cái nên người. Sự suy ngẫm về số phận: Trăn trở về vòng luẩn quẩn của cái nghèo (con gái lại đặt đòn gánh lên vai...) và mong muốn xã hội có những thay đổi để người phụ nữ bớt khổ cực. Trân trọng những giá trị truyền thống: Hình ảnh dòng sông, gánh nước là những biểu tượng văn hóa làng quê, nhắc nhở chúng ta về nguồn cội và những vẻ đẹp khuất lấp trong sự nhọc nhằn.

Câu 1. - Thể thơ: thơ tự do Câu 2. -Các phương thức biểu đạt: Biểu cảm Tự sự Miêu tả Câu 3.

-Tác dụng của việc lặp dòng thơ: +Nhấn mạnh sự kéo dài triền miên của thời gian (năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm năm, nửa đời). +Làm nổi bật số phận lam lũ, vất vả, lặp lại của những người đàn bà gánh nước. +Gợi cảm xúc xót xa, ám ảnh về cuộc đời họ. Câu 4. - Đề tài:Người phụ nữ lao động nghèo ven sông -Chủ đề:Ca ngợi và đồng cảm với cuộc đời vất vả, nhọc nhằn, hi sinh thầm lặng của người phụ nữ; Đồng thời phản ánh vòng luẩn quẩn của nghèo khó và số phận. Câu 5. Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc về số phận con người, đặc biệt là những người phụ nữ lao động nghèo. Họ phải gánh trên vai không chỉ là nước mà còn là cả cuộc đời vất vả, nhọc nhằn kéo dài qua năm tháng. Hình ảnh ấy khiến em cảm thấy xót xa và trân trọng hơn những hi sinh thầm lặng của họ. Đồng thời, bài thơ cũng cho thấy sự lặp lại của số phận qua các thế hệ, khi những đứa trẻ lại tiếp tục con đường của cha mẹ. Từ đó, em nhận ra cần biết yêu thương, chia sẻ và có trách nhiệm hơn với những con người kém may mắn trong xã hội.

24 tháng 4

Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, số chữ mỗi dòng không đều, nhịp thơ linh hoạt, giàu cảm xúc và tính biểu tượng.

Câu 2.
Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ gồm:

  • Biểu cảm (phương thức chính): bộc lộ niềm xót xa, trăn trở của tác giả trước cuộc sống lam lũ của con người.
  • Miêu tả: khắc họa hình ảnh những người đàn bà gánh nước sông, người đàn ông chài lưới và cảnh sống ven sông.
  • Tự sự: kể lại sự nối tiếp số phận qua nhiều thế hệ.
  • Nghị luận (ẩn chứa): gửi gắm suy tư về kiếp người, vòng luẩn quẩn của đói nghèo.

Câu 3.
Việc lặp lại hai lần câu thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:

  • Nhấn mạnh sự kéo dài triền miên của cuộc sống nhọc nhằn, lam lũ.
  • Gợi ra vòng tuần hoàn lặp lại của số phận, đời mẹ nối đời con, nghèo khó vẫn đeo bám.
  • Tạo âm hưởng trầm buồn, day dứt, ám ảnh cho bài thơ.
  • Thể hiện cái nhìn đầy xót thương, suy tư của tác giả trước những phận người nhỏ bé.
  • Làm nổi bật chủ đề về nỗi đau thân phận và khát vọng đổi thay cuộc sống.

Câu 4.

  • Đề tài: Cuộc sống lao động vất vả của người dân nghèo ven sông, đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ gánh nước.
  • Chủ đề:
    Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại của người lao động, đồng thời bày tỏ niềm thương cảm trước số phận cơ cực và vòng luẩn quẩn của đói nghèo truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; qua đó gợi suy tư về cuộc sống con người và khát vọng đổi thay.

Câu 5.
Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời và con người. Em thấu hiểu hơn nỗi vất vả, nhọc nhằn của những người lao động nghèo, đặc biệt là người phụ nữ tảo tần, chịu thương chịu khó. Bài thơ cũng khiến em day dứt trước vòng luẩn quẩn của đói nghèo khi số phận dường như lặp lại qua nhiều thế hệ. Từ đó, em càng trân trọng giá trị của lao động, biết yêu thương, sẻ chia với những mảnh đời khó khăn và nhận ra cần sống có trách nhiệm hơn để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp, công bằng hơn.

24 tháng 4

Câu 1. Thể thơ

 Thể thơ tự do Không theo số chữ, không gieo vần cố định Câu 2. Phương thức biểu đạt      Biểu cảm (chính) Miêu tả Tự sự Câu 3. Tác dụng của điệp câu “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy”   Nhấn mạnh sự lặp lại kéo dài theo thời gian Thể hiện cuộc sống lam lũ, vất vả của người dân Gợi cảm xúc xót xa, trăn trở của tác giả Làm nổi bật tính liên tục qua nhiều thế hệ Câu 4. Đề tài và chủ đề    Cuộc sống của những người dân lao động ven sông (đặc biệt là phụ nữ)   Ca ngợi, đồng thời bày tỏ sự xót thương trước cuộc sống nhọc nhằn, luẩn quẩn, lặp lại qua nhiều thế hệ Gợi suy ngẫm về số phận con người và ước mơ chưa trọn vẹn Câu 5. Suy nghĩ của em (viết ngắn     Bài thơ khiến em cảm thấy thương xót cho những người phụ nữ gánh nước với cuộc sống vất vả, nhọc nhằn kéo dài qua nhiều năm tháng. Họ không chỉ chịu cực khổ mà còn gánh trên vai cả cuộc đời và số phận. Đồng thời, bài thơ cũng làm em suy nghĩ về sự lặp lại của cuộc sống nghèo khó qua các thế hệ, khi con cái lại tiếp tục con đường của cha mẹ. Từ đó, em nhận ra cần trân trọng cuộc sống hiện tại và cố gắng học tập để thay đổi tương lai của bản thân


Câu 1.
→ Thể thơ: thơ tự do (không bị ràng buộc số câu, số chữ, nhịp điệu linh hoạt).


Câu 2.
→ Các phương thức biểu đạt:

  • Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc buồn bã, xót xa)
  • Tự sự (kể lại những biến đổi qua thời gian)
  • Miêu tả (hình ảnh sông, cá, con người…)


Câu 3.
→ Tác dụng của việc lặp:

  • Nhấn mạnh dòng chảy thời gian dài đằng đẵng (5 năm, 15 năm, 35 năm, nửa đời).
  • Gợi sự chứng kiến dai dẳng, ám ảnh của nhân vật trữ tình.
  • Làm nổi bật sự lặp lại buồn bã của số phận con người và cuộc sống ven sông.


Câu 4.

  • Đề tài: Cuộc sống của người dân vùng sông nước.
  • Chủ đề: Nỗi buồn, sự lam lũ và vòng lặp số phận của con người (đặc biệt là phụ nữ và gia đình) trước cuộc sống khó khăn, đồng thời gợi niềm xót xa, trăn trở.


Câu 5.
Bài thơ khiến em suy nghĩ về cuộc sống vất vả của người dân lao động ven sông, đặc biệt là người phụ nữ âm thầm gánh vác gia đình. Qua đó, em cảm nhận được sự khắc nghiệt của cuộc đời và vòng lặp số phận qua nhiều thế hệ. Bài thơ cũng nhắc nhở em biết trân trọng cuộc sống hiện tại và cảm thông hơn với những con người còn nhiều khó khăn.


24 tháng 4

Câu 1. Thể thơ

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do

Câu 2.

Các phương thức biểu đạt chính:

- Biểu cảm

- Miêu tả

- Tự sự

Câu 3.

Việc lặp lại câu:
"Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy"

Có tác dụng nhấn mạnh sự quan sát của tác giả, khắc sâu hình ảnh người phụ nữ gánh nước như vòng lặp cuộc đời gợi hình ảnh lam lũ, vất vả, tạo nhịp điệu suy tư trầm lắng

Câu 4.

Đề tài: Cuộc sống lao động của người dân làng chài, đặc biệt là người phụ nữ
Chủ đề:→ Ca ngợi sự tần tảo, chịu thương chịu khó của người phụ nữ
→ Đồng thời thể hiện niềm xót xa, trăn trở trước cuộc đời nghèo khó, lặp lại qua nhiều thế hệ

Câu 5.

Bài thơ khiến em cảm nhận sâu sắc về hình ảnh người phụ nữ nông thôn lam lũ, vất vả. Họ gánh trên vai không chỉ là nước mà còn là cả cuộc đời nhọc nhằn. Qua đó, em thấy trân trọng hơn sự hi sinh thầm lặng của mẹ, của những người phụ nữ xung quanh mình. Đồng thời, bài thơ cũng khiến em suy nghĩ về những số phận nghèo khó vẫn còn tồn tại, từ đó nhắc nhở bản thân phải biết sống có trách nhiệm, cố gắng học tập để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.


24 tháng 4

Bài thơ: Những người đàn bà gánh nước sông – Nguyễn Quang Thiều, 1992


Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Thể thơ tự do.

Câu 2.

Có 3 phương thức biểu đạt chính:

Miêu tả: Tả hình ảnh người đàn bà gánh nước: “ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra”, “bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt”.

Biểu cảm: Bày tỏ nỗi xót xa, thương cảm, trăn trở trước số phận con người: “Sông gục mặt vào bờ đất lẩn đi”, “cá thiêng quay mặt khóc”.

Tự sự: Kể lại hành trình lặp đi lặp lại của các thế hệ: mẹ gánh nước, con gái lại gánh nước, con trai lại vác cần câu ra đi.


Câu 3. Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì?

Tác dụng:

Nhấn mạnh sự trường tồn, lặp lại của kiếp sống lam lũ, nhọc nhằn. Thời gian đằng đẵng 5 năm, 15 năm, 30 năm… cho thấy nỗi cơ cực đã thành vòng đời, thành định mệnh.

Tạo nhịp điệu trầm buồn, ám ảnh cho bài thơ, như tiếng thở dài của tác giả trước hiện thực.

Thể hiện chiều sâu suy tư, chiêm nghiệm của nhân vật trữ tình. Đó không phải cái nhìn thoáng qua mà là sự chứng kiến cả “nửa đời” người, đủ để nhận ra quy luật nghiệt ngã của đời sống.


Câu 4. Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

Đề tài: Số phận con người lao động nghèo khổ ở làng quê ven sông, đặc biệt là người phụ nữ.

Chủ đề: Bài thơ thể hiện niềm xót thương sâu sắc trước vòng luẩn quẩn của kiếp người: người phụ nữ cả đời gánh gồng, người đàn ông ôm mộng lớn nhưng thất bại. Qua đó tác giả bày tỏ nỗi trăn trở về sự bế tắc, nghèo đói truyền từ đời này sang đời khác và khát vọng phá vỡ cái vòng lặp nghiệt ngã ấy.


Câu 5. Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì?

Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ:

Thương cảm và biết ơn: Thương những người mẹ, người bà cả đời lam lũ “gánh nước sông” để nuôi gia đình. Từ đó biết trân trọng hơn những gì mình đang có.

Trăn trở về sự bế tắc của kiếp nghèo: Hình ảnh “con gái lại đặt đòn gánh lên vai”, “con trai lại vác cần câu” cho thấy vòng lặp nghèo đói. Điều này thôi thúc mỗi người phải học tập, lao động để thoát nghèo, thay đổi số phận.

Nhận thức về giá trị của quê hương: Dù nghèo khó nhưng quê hương với dòng sông, với những con người tảo tần vẫn là cội nguồn neo giữ tâm hồn. Cần có trách nhiệm với mảnh đất đã nuôi mình khôn lớn.

24 tháng 4

Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên.

• Trả lời: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

• Dấu hiệu: Các dòng thơ có độ dài không bằng nhau

Câu 2: Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.

Bài thơ có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương thức:

• Biểu cảm: Bộc lộ cảm xúc, sự trân trọng và xót xa của tác giả trước cuộc đời những người phụ nữ.

• Miêu tả: Khắc họa hình ảnh đôi bàn chân "xương xẩu", "ngón đen toẽ ra", hình ảnh gánh nước, dòng sông...

• Tự sự: Kể về vòng lặp cuộc đời từ đời mẹ sang đời con, con gái lại gánh nước, con trai lại đi câu.

Câu 3: Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì?

Việc lặp lại này (điệp ngữ) có các tác dụng sau:

• Về cấu trúc: Tạo nhịp điệu chậm rãi, kéo dài như dòng chảy của thời gian và dòng nước sông.

• Về nội dung: * Nhấn mạnh sự quan sát bền bỉ, ám ảnh của tác giả về thân phận người phụ nữ.

• Khẳng định tính chất vĩnh cửu, không thay đổi của sự vất vả, lam lũ. Đó không phải là chuyện ngày một ngày hai mà là cả một kiếp người, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Câu 4: Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

• Đề tài: Người phụ nữ và cuộc sống lao động ở làng quê Việt Nam.

• Chủ đề: Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp chịu thương chịu khó, sự hy sinh thầm lặng của những người phụ nữ vùng đồng bằng Bắc Bộ; đồng thời thể hiện nỗi suy tư về sự truyền nối của kiếp người và những thân phận lam lũ trong dòng chảy vô tận của thời gian.

Câu 5: Bài thơ này gợi cho em những suy nghĩ gì?

Đây là câu hỏi mở, bạn có thể tham khảo các ý sau:

• Sự thấu hiểu và lòng biết ơn: Cảm thấy xúc động trước hình ảnh những người mẹ, người bà đã dùng cả "nửa đời người" gánh vác sự sống cho gia đình qua những gánh nước sông đơn sơ.

• Nỗi xót xa về sự nghèo khó: Suy nghĩ về sự khắc nghiệt của số phận khi cái nghèo và sự vất vả dường như trở thành một "vòng lặp" khó thoát ra (con gái lại gánh nước, con trai lại vác cần câu).

• Sức sống bền bỉ: Hình ảnh đôi bàn chân "toẽ ra như móng chân gà mái" tuy thô kệch nhưng lại là biểu tượng của sự trụ vững, sức mạnh phi thường để nuôi nấng những "lũ trẻ cởi truồng" lớn lên.


24 tháng 4

Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do

Số chữ trong mỗi dòng thơ không bằng nhau


Câu 2.
Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ gồm:

  • Tự sự (kể lại những gì “tôi thấy” qua nhiều năm tháng)
  • Miêu tả (hình ảnh người đàn bà gánh nước, trẻ em, người đàn ông…)
  • Biểu cảm (thể hiện nỗi xót xa, trăn trở trước cuộc sống lam lũ, lặp lại buồn bã)

Câu 3.
Việc lặp lại câu thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:

  • Nhấn mạnh thời gian dài đằng đẵng, sự lặp lại của cảnh đời.
  • Gợi ra vòng luẩn quẩn, bế tắc của cuộc sống người dân nơi đây.
  • Thể hiện nỗi ám ảnh, day dứt của tác giả trước những cảnh đời không đổi thay.

Câu 4.

  • Đề tài: Cuộc sống lao động nghèo khó của những người dân ven sông (đặc biệt là phụ nữ và gia đình họ).
  • Chủ đề: Bài thơ thể hiện sự cảm thương sâu sắc trước cuộc sống lam lũ, cực nhọc, lặp lại qua nhiều thế hệ, đồng thời gợi lên nỗi trăn trở về số phận con người và khát vọng đổi thay.

Câu 5.
Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc. Trước hết là sự xót xa trước hình ảnh những người phụ nữ phải lao động vất vả, gánh nước suốt cả cuộc đời. Cuộc sống của họ không chỉ khó khăn mà còn lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, khiến ta cảm nhận rõ sự nghèo đói và bế tắc. Bên cạnh đó, hình ảnh những đứa trẻ lớn lên rồi tiếp tục con đường của cha mẹ khiến em suy nghĩ về sự thiếu cơ hội để thay đổi số phận. Từ đó, em nhận ra cần trân trọng cuộc sống hiện tại, cố gắng học tập để không rơi vào vòng luẩn quẩn như vậy, đồng thời biết yêu thương, sẻ chia với những con người có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội

24 tháng 4

Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.
Các phương thức biểu đạt:

  • Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc, suy tư)
  • Miêu tả (khắc họa hình ảnh người đàn bà, con sông, làng quê)
  • Tự sự (kể lại những gì “tôi thấy” qua thời gian)

Câu 3.
Việc lặp lại câu “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng

  • Tác dụng nghệ thuật:
    Điệp lại câu thơ tạo biện pháp điệp cấu trúc/điệp ngữ, giúp nhịp thơ trở nên dồn dập, ám ảnh, đồng thời tăng tính liên kết giữa các đoạn, làm nổi bật mạch cảm xúc xuyên suốt bài thơ.
  • Tác dụng nội dung:
    Nhấn mạnh dòng thời gian kéo dài (5 năm – 15 năm – 30 năm – nửa đời) mà “tôi” chứng kiến, qua đó làm nổi bật sự lặp lại, bế tắc của cuộc sống lam lũ, gợi nỗi xót xa, trăn trở trước số phận con người gần như không đổi qua nhiều thế hệ.


Câu 4.

Bài thơ khai thác đề tài về cuộc sống của những con người lao động ven sông, đặc biệt là hình ảnh những người phụ nữ gánh nước với bao nỗi nhọc nhằn, vất vả. Qua đó, tác giả thể hiện chủ đề là niềm xót xa, thương cảm trước số phận lam lũ, quẩn quanh của họ khi cuộc sống dường như lặp lại qua nhiều thế hệ mà không có sự đổi thay. Đồng thời, bài thơ còn gợi ra những suy ngẫm sâu sắc về vòng quay nghiệt ngã của đời sống và khát vọng về một sự đổi khác tốt đẹp hơn cho con người.


Câu 5.
Bài thơ gợi cho em suy nghĩ về sự vất vả, hi sinh thầm lặng của những người lao động, đặc biệt là phụ nữ. Cuộc sống của họ dường như lặp lại qua nhiều thế hệ, ít có sự đổi thay. Điều đó khiến em thêm trân trọng những con người bình dị và ý thức hơn về việc phải cố gắng học tập, góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, để không còn những cảnh đời nhọc nhằn như trong bài thơ.


24 tháng 4

Câu 1. Xác định thể thơ

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do

  • Không bị ràng buộc số chữ, số câu
  • Nhịp điệu linh hoạt, giàu cảm xúc


Câu 2. Phương thức biểu đạt

→ Các phương thức biểu đạt chính:

  • Biểu cảm (chủ đạo): thể hiện nỗi xót xa, trăn trở về cuộc đời người dân chài
  • Tự sự: kể lại những hình ảnh, cảnh đời lặp lại qua thời gian
  • Miêu tả: khắc họa chân thực hình ảnh người đàn bà gánh nước, người đàn ông đi biển,…


Câu 3. Tác dụng của việc lặp lại câu thơ

“Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy”

→ Tác dụng:

  • Nhấn mạnh sự kéo dài của thời gian (nhiều năm, cả đời người)
  • Gợi vòng lặp luẩn quẩn, bế tắc của cuộc sống người dân chài
  • Thể hiện sự ám ảnh, trăn trở của tác giả trước cảnh đời không đổi thay
  • Tăng nhịp điệu, tạo chiều sâu cảm xúc


Câu 4. Đề tài và chủ đề

- Đề tài:
→ Cuộc sống của người dân vùng biển (đặc biệt là phụ nữ gánh nước, đàn ông đi biển)

- Chủ đề:
→ Bài thơ phản ánh cuộc sống lam lũ, vất vả, bế tắc và lặp lại qua nhiều thế hệ của người dân chài, đồng thời bộc lộ niềm xót xa, day dứt của tác giả trước số phận con người.


Câu 5. Suy nghĩ của em

Bài thơ khiến em cảm nhận sâu sắc về cuộc sống vất vả, nhọc nhằn của người dân lao động vùng biển. Những hình ảnh lặp lại qua nhiều thế hệ gợi nên sự bế tắc, thiếu lối thoát, khiến em thấy xót xa và trân trọng hơn những con người lam lũ ấy. Từ đó, em nhận ra cần biết yêu thương, sẻ chia và sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, đặc biệt là những người còn nhiều khó khăn.


24 tháng 4

Câu 1. Xác định thể thơ

Bài thơ của Nguyễn Quang được viết theo thể thơ tự do.
→ Đặc điểm: không bị ràng buộc số câu, số chữ, vần điệu linh hoạt.

Câu 2. Các phương thức biểu đạt

Bài thơ sử dụng kết hợp:

  • Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc xót xa, thương cảm)
  • Tự sự (kể lại hình ảnh đời sống qua thời gian)
  • Miêu tả (khắc họa hình ảnh người phụ nữ, con sông, làng quê)

Câu 3. Tác dụng của việc lặp câu thơ

Câu thơ được lặp lại:

“Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy”

Tác dụng:

  • Nhấn mạnh dòng chảy thời gian dài đằng đẵng
  • Gợi sự chứng kiến bền bỉ của tác giả trước những số phận
  • Làm nổi bật tính lặp lại, luẩn quẩn của cuộc đời nghèo khó
  • Tăng giá trị biểu cảm, tạo âm hưởng day dứt


Câu 4. Đề tài và chủ đề

  • Đề tài:
    Cuộc sống của người dân lao động vùng sông nước, đặc biệt là người phụ nữ.
  • Chủ đề:
    Bài thơ thể hiện:
  • Nỗi xót thương trước cuộc đời lam lũ, vất vả
  • Sự bế tắc, nghèo đói kéo dài qua nhiều thế hệ
  • Đồng thời là lời cảnh tỉnh về vòng luẩn quẩn của số phận

Câu 5. Suy nghĩ của em

Bài thơ gợi cho em:

  • Sự cảm thông sâu sắc với những người phụ nữ nghèo khổ
  • Nhận ra cuộc sống vẫn còn nhiều bất công và khó khăn
  • Trân trọng hơn cuộc sống hiện tại
  • Ý thức cần cố gắng học tập để thay đổi tương lai, không để rơi vào vòng lặp nghèo khó như trong bài thơ


Câu 1 (khoảng 200 chữ)

Phân tích hình tượng người phụ nữ

Hình tượng người phụ nữ trong bài thơ hiện lên đầy ám ảnh qua những chi tiết chân thực và xót xa. Họ là những con người lam lũ, với “ngón chân xương xẩu”, “móng dài và đen”, gợi lên cuộc sống vất vả, thiếu thốn. Công việc gánh nước tưởng chừng bình thường nhưng lại kéo dài suốt nhiều năm, thậm chí “nửa đời”, cho thấy sự cực nhọc triền miên. Không chỉ vậy, họ còn phải gánh trên vai cả gia đình và số phận, khi một tay giữ đòn gánh, tay kia “bám vào mây trắng” – hình ảnh giàu tính biểu tượng cho khát vọng mong manh. Đáng buồn hơn, cuộc đời ấy dường như lặp lại qua các thế hệ: con gái lại tiếp tục gánh nước như mẹ. Qua đó, tác giả thể hiện niềm xót thương sâu sắc trước số phận người phụ nữ và phê phán sự bế tắc của cuộc sống nghèo khổ. Hình tượng ấy khiến người đọc không khỏi suy nghĩ về trách nhiệm thay đổi cuộc đời và xã hội.



Câu 2 (khoảng 600 chữ)

Nghị luận về “burnout” (kiệt sức) của giới trẻ

Trong xã hội hiện đại, “burnout” – hội chứng kiệt sức – đang trở thành vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt ở giới trẻ. Đây là trạng thái mệt mỏi kéo dài cả về thể chất lẫn tinh thần, khiến con người mất động lực học tập và làm việc.

Nguyên nhân của burnout đến từ nhiều phía. Trước hết là áp lực học tập, thi cử và kỳ vọng từ gia đình, xã hội. Nhiều bạn trẻ luôn phải chạy theo thành tích, dẫn đến căng thẳng kéo dài. Bên cạnh đó, việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều khiến họ dễ so sánh bản thân với người khác, từ đó sinh ra cảm giác tự ti, áp lực. Ngoài ra, lối sống thiếu cân bằng giữa học tập – nghỉ ngơi cũng là nguyên nhân quan trọng.

Hậu quả của burnout rất nghiêm trọng. Nó khiến người trẻ mất tập trung, giảm hiệu suất, thậm chí rơi vào trạng thái chán nản, mất phương hướng. Nếu kéo dài, burnout còn ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và tương lai của mỗi người.

Để khắc phục tình trạng này, cần có giải pháp từ cả cá nhân và xã hội. Mỗi bạn trẻ cần học cách quản lý thời gian, cân bằng giữa học tập và nghỉ ngơi. Đồng thời, nên xây dựng lối sống lành mạnh, tập thể dục và hạn chế phụ thuộc vào mạng xã hội. Gia đình và nhà trường cũng cần giảm áp lực, tạo môi trường tích cực để người trẻ phát triển toàn diện.

Burnout không phải là điều không thể vượt qua. Khi hiểu rõ bản thân và biết điều chỉnh, mỗi người trẻ hoàn toàn có thể lấy lại năng lượng và định hướng cho tương lai. Đây cũng là bài học quan trọng giúp chúng ta sống tích cực và bền vững hơn trong cuộc sống hiện đại.




24 tháng 4

Câu 1: Xác định thể thơ của bài thơ trên.

Thể thơ: Tự do. (Các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không tuân theo quy tắc gieo vần hay số chữ cố định).

Câu 2: Chỉ ra những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.

Các phương thức biểu đạt chính bao gồm:

Biểu cảm: Bộc lộ cảm xúc, sự trăn trở của tác giả trước cuộc sống nhọc nhằn.

Miêu tả: Khắc họa hình ảnh những người đàn bà, những bàn tay, bàn chân, dòng sông...

Tự sự: Kể về vòng lặp của cuộc đời, từ người mẹ đến những đứa trẻ lớn lên lại tiếp nối công việc ấy.

Câu 3: Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng gì?

Việc sử dụng biện pháp điệp ngữ/điệp cấu trúc này có các tác dụng sau:

Về mặt cấu trúc: Tạo nhịp điệu suy tư, nhức nhối cho bài thơ.

Về nội dung:

• Nhấn mạnh sự ám ảnh của tác giả về hình ảnh những người phụ nữ lao động vất vả.

• Khẳng định tính chất trường cửu, không thay đổi của kiếp người nghèo khó. Thời gian trôi đi (5 năm, 15 năm, 30 năm...) nhưng nỗi vất vả của họ vẫn còn nguyên vẹn.

• Thể hiện cái nhìn thấu cảm, gắn bó sâu sắc của nhân vật "tôi" với quê hương, xứ sở.

Câu 4: Phát biểu đề tài và chủ đề của bài thơ.

Đề tài: Người phụ nữ nông thôn và cuộc sống lao động lam lũ ở làng quê Việt Nam.

Chủ đề: Bài thơ ca ngợi sự kiên cường, nhẫn nại và đức hy sinh thầm lặng của những người phụ nữ. Đồng thời, tác giả thể hiện niềm xót xa trước vòng lặp của cái nghèo, cái khổ truyền đời từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Câu5

"Trong cuộc sống hiện đại, tinh thần tương thân tương ái đóng vai trò vô cùng quan trọng để kết nối con người. Mỗi hành động nhỏ, từ việc nhường ghế trên xe buýt đến việc tham gia các hoạt động thiện nguyện, đều góp phần lan tỏa hơi ấm tình thương. Chúng ta không chỉ sống cho riêng mình mà còn cần biết sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh. Khi biết cho đi, giá trị bản thân mỗi người sẽ được nâng cao và tâm hồn trở nên thanh thản hơn. Tóm lại, mỗi cá nhân cần có ý thức trách nhiệm cao với cộng đồng để cùng nhau xây dựng một xã hội văn minh và tốt đẹp hơn."



24 tháng 4

Câu 1.
→ Thể thơ: thơ tự do.

Câu 2.
→ Các phương thức biểu đạt:

  • Biểu cảm (bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ)
  • Tự sự (kể lại những gì “tôi thấy” qua thời gian)
  • Miêu tả (khắc họa hình ảnh người đàn bà gánh nước, cảnh sông nước)

Câu 3.
→ Tác dụng của việc lặp lại câu thơ:

  • Nhấn mạnh dòng thời gian dài đằng đẵng (5 năm, 15 năm, 30 năm, nửa đời người)
  • Thể hiện sự chứng kiến bền bỉ, ám ảnh của nhân vật “tôi”
  • Gợi ra vòng lặp số phận: cuộc sống vất vả của người dân cứ tiếp diễn qua nhiều thế hệ

Câu 4.

  • Đề tài: Cuộc sống của những người lao động nghèo ven sông (đặc biệt là người phụ nữ gánh nước).
  • Chủ đề:
    → Thể hiện sự cảm thương, xót xa trước cuộc đời lam lũ, cơ cực
    → Đồng thời gợi suy ngẫm về vòng luẩn quẩn của nghèo khó và số phận con người qua các thế hệ

Câu 5.
→ Gợi ý viết (khoảng 5–7 dòng):
Bài thơ khiến em cảm nhận sâu sắc về cuộc sống nhọc nhằn, vất vả của những người phụ nữ lao động nghèo. Họ phải gánh trên vai không chỉ là nước mà còn là cả gánh nặng mưu sinh và số phận. Qua đó, em thấy thương cảm và trân trọng hơn những con người âm thầm hi sinh vì gia đình. Bài thơ cũng khiến em suy nghĩ về sự lặp lại của cuộc đời: những đứa trẻ lớn lên rồi lại tiếp tục con đường của cha mẹ. Từ đó, em nhận ra cần biết cố gắng học tập để thay đổi tương lai và sống có trách nhiệm hơn.


24 tháng 4

Câu 1.

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do (không bó buộc số câu, số chữ, nhịp điệu linh hoạt).




Câu 2.

Các phương thức biểu đạt được sử dụng gồm:


  • Tự sự: kể lại những gì “tôi thấy” qua thời gian.
  • Miêu tả: khắc họa hình ảnh người đàn bà, đàn ông, dòng sông, lũ trẻ…
  • Biểu cảm: thể hiện cảm xúc xót xa, trăn trở trước cuộc sống.





Câu 3.

Việc lặp lại câu: “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:


  • Nhấn mạnh độ dài thời gian chứng kiến (từ quá khứ đến hiện tại, kéo dài gần cả đời).
  • Tạo cảm giác lặp lại, luẩn quẩn của cuộc sống người dân ven sông.
  • Thể hiện nỗi ám ảnh, day dứt của tác giả trước những cảnh đời nghèo khó, bế tắc không thay đổi.





Câu 4.


  • Đề tài: Cuộc sống của những con người lao động nghèo vùng sông nước (đàn bà gánh nước, đàn ông đi câu cá, lũ trẻ lớn lên…).
  • Chủ đề: Phản ánh vòng luẩn quẩn, bế tắc của đời sống nghèo khó qua nhiều thế hệ, đồng thời bộc lộ niềm xót xa, trăn trở trước số phận con người và khát vọng đổi thay.





Câu 5.

Bài thơ gợi nhiều suy nghĩ:


  • Cuộc sống của người lao động nghèo vẫn còn nhiều vất vả, lặp lại qua các thế hệ mà chưa có lối thoát.
  • Con người dường như bị cuốn vào một vòng quay định mệnh: lớn lên rồi lại tiếp tục cuộc đời giống cha mẹ.
  • Gợi sự cảm thông, thương xót và thôi thúc mỗi người suy nghĩ về trách nhiệm thay đổi cuộc sống, hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn.



Câu 1..

Thể thơ: Tự do (các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không gò bó về số chữ hay vần luật).

Câu 2.

Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.

Kết hợp với: Tự sự (kể về sự luân hồi của các kiếp người bên dòng sông) và Miêu tả (hình ảnh con cá, lũ trẻ, người đàn bà gánh nước...).

Câu 3.

Nhấn mạnh sự ám ảnh: Cho thấy những hình ảnh, sự việc đó diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại suốt một thời gian dài trong tâm trí tác giả.

Tạo nhịp điệu: Làm tăng tính nhạc, tạo sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại.

Khẳng định sự quan sát chiêm nghiệm: Thể hiện cái nhìn đau đáu, sâu sắc của tác giả về sự vận động và những nỗi đau âm thaaucaaugu

Câu 4

Đề tài: Bài thơ viết về đề tài quê hương, cụ thể là cuộc sống lam lũ, nhọc nhằn của những con người nghèo khổ bên dòng sông quê (hình ảnh dòng sông Đáy quen thuộc trong thơ Nguyễn Quang Thiều).

Chủ đề: Thông qua việc tái hiện những hình ảnh đau xót và sự nối tiếp của các thế hệ trong cảnh nghèo khó, bài thơ thể hiện niềm thương cảm sâu sắc, nỗi trăn trở khôn nguôi của tác giả trước những thân phận con người bé nhỏ và sự tổn thương của những giá trị thiêng liêng trước thực tại đời sống nghiệt ngã.

Câu 5



Câu 1 Thể thơ tự do các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau không gò bó về số chữ

Câu 2 Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm

Câu3 Tạo nhịp điệu Giúp bài thơ có sự kết nối như một lời kể lặp đi lặp lại đầy trăn trở

Nhấn mạnh thời gian Khẳng định sự quan sát bền bỉ lâu dài của tác giả đối với cuộc sống quê hương

Nhấn mạnh sự ám ảnh Cho thấy những hình ảnh về người phụ nữ gánh nước người đàn ông đi câu đã in sâu vào tâm trí trở thành một phần không thể thiếu trong kí ức và cuộc đời tác giả

Câu 4 ddeef taif cuộc sống sinh hoạt của những con người ở làng quê nghèo bên dòng sông.

Chủ đề Bài thơ thể hiện sự trân trọng, niềm thương cảm và nỗi ám ảnh của tác giả trước cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ của những người dân quê (đặc biệt là người phụ nữ) và sự nối tiếp các thế hệ trong cái nghèo khó nhưng đầy nghị lực

Câu 5

Bài thơ gợi cho em niềm xúc động nghẹn ngào trước hình ảnh những người phụ nữ lam lũ bên dòng sông quê hương. Những chi tiết tả thực về ngoại hình 'xương xẩu' 'móng dài và đen' không làm họ xấu đi mà trái lại, càng làm tôn lên sự hy sinh vĩ đại của người phụ nữ trong việc gánh vác cuộc đời. Em nhận ra rằng, đằng sau sự trưởng thành của mỗi người là cả một cuộc đời 'nửa đời tôi thấy' đầy nhọc nhằn của thế hệ đi trước ddồng thời bài thơ cũng gieo vào lòng em một nỗi trăn trở về tương lai, thôi thúc em phải nỗ lực học tập để những đòn gánh nhọc nhằn ấy không còn là gánh nặng duy nhất trên vai những người phụ nữ Việt Nam

2 tháng 6 2016

mk ko bít nhưng mk bít câu nói này có trong ngày Vu Lan- Báo Hiếu

2 tháng 6 2016

ai biết nó nằm ở video nào trên youtube chỉ mình

 

6 tháng 12 2016

Tôi ngưỡng mộ tác giả Đinh Vũ Ngọc (ĐVN) từ khi nhà thơ Hương Thu (Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ UNESCO Thơ Đường Việt Nam) đọc bài thơ “MỜI” của ông trong buổi lễ Họp mặt các Chi nhánh CLB UNESCO Thơ Đường các tỉnh phía Nam lần đầu tiên năm 2006. Giọng thơ toát lên sự trẻ trung, khỏe khoắn. Đây là một trong những nét mới ít thấy ở thể thơ Luật Đường. Chưa biết ông trước khó có thể hình dung ra được sự “cổ lai hy” đó chính là ở một tác giả không chuyên nghiệp và đã bước vào lớp người “cổ lai hy”. Khi nhà thơ Thành Nhân, Chủ nhiệm chi nhánh CLB UNESCO Thơ Đường thành phố Cao Lãnh ghé chơi và đọc cho nghe bài thơ “CHIẾC ÁO DÀI VIỆT NAM”, tôi hoàn toàn bị chinh phục và đã khẩn khoản nhờ anh đọc cho tôi chép lại nguyên tác và đây cũng chỉ là bài thơ thứ hai của tác giả ĐVN mà tôi vinh hạnh được đọc. Thế là tôi cứ thế mà nghiền ngẫm, đọc đi đọc lại cả chục lần vẫn cứ say sưa.

 

Hãy lắng nghe tác giả mở đề:

 

Chiếc áo quê hương dáng thướt tha

Non sông gấm vóc mở đôi tà

Câu “phá đề” giới thiệu trực khởi về chiếc áo quê hương mang dáng vóc dịu dàng, xinh xắn rất phù hợp với phụ nữ Việt Nam. Câu “thừa đề” nâng cao lên, dẫn người đọc liên tưởng tới “non sông gấm vóc”. Cách mở đề thành công, mang tính truyền thống thường thấy, chưa sử dụng bất cứ nghệ thuật gì khác biệt. Điều tôi khâm phục chính là sự khéo léo của tác giả trong việc lồng ghép, lựa chọn từ ngữ để diễn tả một cách khái quát hết những ý chính mà bài thơ sẽ nói đến đó là: chiếc áo dài quê hương, phù hợp với vẻ đẹp hình thể kết hợp với nét thùy mị, duyên dáng, nết na, thanh thoát của chị em phụ nữ Việt Nam, không những chỉ mang phong thái cốt cách văn hóa của người Việt Nam mà còn nhắc nhở mỗi người về tình yêu đất nước.

 

Tà bên Đông Hải lung linh sóng

Tà phía Trường Sơn rực rỡ hoa

Cặp câu “thực” cũng là một sự thăng hoa hoa của cảm hứng nghệ thuật. Hai câu giống như hai vết kéo của người thợ may, đã cắt xong hai vạt áo; giống như hai nét sổ của người họa sĩ, vừa chấm phá nét phác thảo bản họa đồ đất nước; giống như những tiết tấu mở đầu hai dòng nhạc hứa hẹn cho những giai điệu du dương. Chỉ hai câu thôi cũng đã thấy biển bạc, rừng vàng, thấy cả dãy Trường Sơn hùng vĩ. Chỉ hai câu mà thấy hiện lên cả âm thanh, màu sắc. Ta tưởng như nghe tiếng sóng vỗ dạt dào. Ta tưởng như thấy trăm hoa đua nở. Tác giả không ngần ngại việc sử dụng “điệp tự”. Chữ “” níu từ câu “phá” được lặp lại hai lần trong cặp “thực” không hề phá vỡ bố cục mà càng làm cho tứ thơ liền lạc, dẫn người đọc phải đọc tiếp, chiêm ngưỡng tiếp. Đọc tới đây ta có cảm giác như đang trong chuyến hành hương tìm về cội nguồn, vừa lắng nghe chăm chú, vừa nhìn theo cánh tay chỉ, vừa khâm phục sự am tường của người hướng dẫn viên du lịch.

 

Vạt rộng Nam phần chao cánh gió

Vòng eo Trung bộ thắt lưng ngà

Một “vạt áo” nhỏ nhoi, sao như lột tả cả miền Nam thân thiết. Những cánh rừng miền Đông bát ngát; những cánh rừng ngập mặn bạt ngàn; những bãi biển phương Nam hiền hòa, ấm nắng; những dòng sông chở nặng phù sa; những đồng lúa bao la xanh ngắt đương thì con gái… đang vươn ra đón ngọn gió lành. Kỳ diệu hơn là “vòng eo” thắt đáy lưng ong, niềm tự hào của vẻ đẹp phụ nữ phương Đông truyền thống lại được tác giả nhuần nhị ẩn dụ vào dải đất miền Trung điệp trùng đồi núi và nổi tiếng với những eo vịnh biển đẹp tầm cỡ quốc tế, những khu du lịch sầm uất, mỗi năm níu gót hàng triệu bước chân du khách. Nghệ thuật đối ở cả hai cặp “thực” và “luận” đều rất nhuần nhuyễn. Tác giả hình như không chỉ là nhà thơ! Tác giả là họa sĩ, là kiến trúc sư? Tác giả là nhà khoa học viễn tưởng hay là một nghệ nhân điêu khắc? Không thể nào? Phải có sự phối hợp nghệ thuật hài hòa lắm giữa các bộ môn ấy mới có thể có được sự quan sát tinh tường dường ấy, sự miêu tả tinh tế dường ấy.

 

Nhịp tim Hà Nội nhô gò ngực

Hương lúa ba miền thơm thịt da.

Đành rằng rất thích, thích đến mê đắm bài thơ này, tôi vẫn mạnh dạn chân thành phát biểu quan điểm riêng của mình là: cặp câu “kết” chưa cân xứng với tầm cỡ của bài thơ. Tác giả đã có sự khám phá khi phát hiện và lựa Hà Nội làm điểm nhấn cho “vạt trước của chiếc áo”. Tuy nhiên, “trái tim Hà Nội” có lẽ vẫn đắt hơn là “nhịp tim”. Các cụm từ “nhô gò ngực” và “thơm thịt da” dẫu rất hình tượng nhưng lại quá cụ thể đã làm giảm tính tế nhị và đánh mất chất thơ. Cụm từ “Hương lúa ba miền” thật đắt đã góp phần làm mờ nhạt bớt hạn chế nhỏ vừa kể trên.

 

Trong những năm gần đây, giới yêu thích thơ luật Đường đã có sân chơi riêng, có điều kiện giao lưu rộng rãi hơn, đặc biệt là từ khi Câu lạc bộ UNESCO Thơ Đưởng Việt Nam ra đời và liên tục cho ra mắt các chi nhánh ở các tỉnh thành trong cả nước. Tuy vậy, vẫn còn không ít người cho rằng đó là hình thức cổ điển, ngoại lai, gò bó, kém sáng tạo thì việc sáng tác, phát hiện và giới thiệu những bài thơ hay ở thể thơ này càng trở nên là một trong những việc đáng làm. Có thể những suy nghĩ của tôi chưa thật sự xác đáng, song tự đáy lòng tôi vừa rất kính trọng vừa nể phục tác giả ĐVN. Qua bài thơ của mình ông đã cho thấy “bình xưa” chưa hẳn đã xưa. Đặc biệt sự tìm tòi, ý tưởng sáng tạo đã vượt lên hẳn những bài thơ luật Đường đương thời. Tính trí tuệ được toát ra từ mỗi từ, mỗi chữ, mỗi câu. Đúng là một tuyệt tác, một trong những bài thơ hay nhất về chiếc áo dài Việt Nam mà tôi đã từng đọc! Chúc tác giả ĐVN khỏe mạnh, sống lâu và say mê sáng tác để ngày càng có thêm nhiều tác phẩm hay gửi đến bạn yêu thơ cả nước.

Bạn tham khảo nhé! Chúc bạn học tốt!

12 tháng 12 2016


Chiếc áo quê hương dáng thướt tha
Non sông gấm vóc mở đôi tà
Tà bên Đông Hải lung linh sóng
Tà phía Trường Sơn rực rỡ hoa
Vạt rộng Nam phần chao cánh gió
Vòng eo Trung bộ thắt lưng ngà
Nhịp tim Hà Nội nhô gò ngực
Hương lúa ba miền thơm thịt da.
Đinh Vũ Ngọc

Các đồng chí đã quen thuộc với hình ảnh của những nữ quân nhân với các bộ quân phục trông mạnh mẽ, gọn gàng thể hiện nét đẹp chính quy. Nhưng chúng tôi cũng muốn thể hiện mình thướt tha trong bộ áo dài truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Đến với hội thi hôm nay, các nữ quân nhân đơn vị rất phấn khởi và tự tin trong tà áo làm nên nét đẹp quê hương mình…
Hình ảnh người con gái Việt Nam dịu dàng tha thướt trong chiếc áo dài, với chiếc nón bài thơ e ấp trong tay, nghiêng nghiêng vành nón lá như cố giấu nụ cười ánh mắt là một hình ảnh duyên dáng, dễ thương và gợi cảm nhất của người con gái Việt Nam .
"Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay"
BíchLan
Chiếc áo dài và chiếc nón là trang phục làm nổi bật và tăng thêm nét duyên dáng, e ấp, dịu dàng, trang nhã, đài các, kiêu sa ... của người phụ nữ Việt. Áo dài như dòng nước uốn lượn theo từng đường nét cơ thể mềm mại thướt tha của người phụ nữ . Hai vạt áo dài như đôi cánh và những bước chân chim của nàng làm dao động cả cảnh vật và không khí chung quanh. Thân hình thấp thoáng sau tà áo, khuôn mặt mờ tỏ sau vành nón, ẩn hiện như hư như thực


Tấm áo lụa mỏng thướt tha với nhiều màu sắc kín đáo trang nhã trở thành tâm điểm chú ý và là bông hoa sáng tôn lên vẻ yêu kiều thanh lịch cho người phụ nữ.
Đã hàng thế kỉ trôi qua, trang phục áo dài trắng trinh nguyên như là biểu tượng cho vẻ đẹp thanh khiết cao quý của tâm hồn người thiếu nữ đất Việt,
Văn hóa áo dài Việt Nam đã trải qua nhiều tiếp biến, giao lưu và có đời sống lịch sử qua nhiều triều đại. Mỗi triều đại, chiếc áo dài phản ánh một sự phát triển mới về cảm quan thẩm mỹ của một đất nước đa dân tộc. Mỗi dân tộc người trên đất Việt có thể sáng tạo mãi trên chiếc áo dài của mình mà không hề lẫn lộn với các tộc người khác. Sự sáng tạo thể hiện không chỉ ở các kiểu cách, các màu sắc mà còn ở các tiết họa, kết cấu trang trí trên áo dài. Mỗi bước tiến của văn hóa, văn minh, chiếc áo dài của mỗi tộc người càng gắn liền với bản sắc dân tộc - hiện đại hơn
Chiếc áo dài là thể hiện sự thống nhất giữa cái đúng, cái tốt và cái đẹp trong văn hóa Việt Nam. Chiếc áo dài Việt đã từng được trần bông để mặc trong lúc hàn giá, đã từng được may bằng lụa mỏng để mặc trong những ngày nóng nực. Mùa Xuân, mùa Thu, chiếc áo dài Việt có thể được may bằng những chất liệu phù hợp với thời tiết.
Đời sống thẩm mỹ phong phú của chiếc áo dài Việt biểu hiện tập trung ở sự thể hiện khác nhau của cái đẹp. Áo dài có thể biểu hiện trong cái đẹp kiêu sa, lộng lẫy, choáng ngợp, lại cũng có thể biểu hiện trong cái đẹp dịu dàng đoan trang thùy mị, trong cái đẹp giản dị, thường nhật. Áo dài Việt có thể đẹp khi mang lại sự ấm áp trong mùa Đông, mát mẻ trong mùa hè, dịu dàng trong mùa Xuân, kiều diễm trong mùa Thu. Những gam màu, những kiểu dáng vô tận được thể hiện thông qua chiếc áo dài Việt không chỉ tạo nguồn cảm xúc thẩm mỹ bất tận cho các nhà sáng tạo mà còn làm rung động hàng triệu trái tim về sự xuất hiện của nó trong những tình huống nhất định của cuộc sống.
Cảm xúc về chiếc áo dài Việt Nam cũng đã làm nên những ca khúc bất từ, đi vào thơ ca, phảng phất được cái riêng, cái giản dị của cuộc sống:
Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
Hôm xưa em đến mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng em đi đến
Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng
Do tính đa dạng kỳ diệu trong đời sống thẩm mỹ của xã hội, chiếc áo dài có thể là hình ảnh tạo dựng về cái đẹp của người phụ nữ khi sử dụng nó. Khoác chiếc áo dài lên mình, bước ra đường phố, đến nơi công sở người phụ nữ đã tự cảm thấy mình đẹp hơn và đối diện cũng như hòa chung vào với cái đẹp khác của xã hội. Người phụ nữ mặc chiếc áo dài để nâng cao giá trị của mình và hy vọng được

    Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm) Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến...
Đọc tiếp

 

 

Phn I. Đọc hiu (3,0 đim)

Mặc dù chúng ta đang có một cuộc sống đầy đam mê và có những mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, nhưng chúng ta hẳn cũng khó lòng tránh được có lúc lâm vào nghịch cảnh. Liệu chúng ta sẽ đứng dậy sau cơn phong ba đó, hay hoàn toàn bị gục ngã. Điều này phụ thuộc vào cách chúng ta đối đầu với chúng. Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó.

Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác. Tìm hiểu xem những người đi trước đã đối phó với khó khăn tương tự như thế nào giúp chúng ta tìm ra giải pháp cho mình. Những tấm gương về những con người đầy nghị lực và giàu lòng quả cảm, có khả năng trụ vững sau bao cơn giông tố của cuốc đời luôn là tâm điểm cho chúng ta noi theo.

Đó là nghị lực của Walt Disney trong việc thực hiện ước mơ của mình sau năm lần phá sản. Bất chấp số phận, Helen Keller đã không cam chịu để người đời thương hại. Ngược lại bà đã dũng cảm vượt qua nghịch cảnh, trở thành tấm gương sáng cho hàng triệu người noi theo…

Niềm tin vào bản thân là nội lực thúc đẩy thái độ tích cực, dẫn dắt chúng ta đạt được mục tiêu của mình. Thành công không bao giờ đến với những ai yếu đuối và có thái độ buông xuôi.

          ( Điều kì diệu của thái độ sống, Mac Anderson, NxbTổng hợp TP.Hồ Chí Minh năm 2008, tr14)

Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Văn bản tập trung bàn về vấn đề gì?

Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ trong câu:"Trước những thác ghềnh, chông gai trên đường khiến chúng ta cảm thấy nản lòng và hoài nghi, thì niềm tin mãnh liệt vào bản thân là điều cần thiết hơn bao giờ hết để chúng ta vượt qua những trắc trở đó."

Câu 3. Theo anh/ chị, việc đưa ra dẫn chứng hai nhân vật Walt Disney Helen Keller có tác dụng gì?

Câu 4. Anh chị có đồng tình với quan điểm: Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ đơn giản là học được từ người khác hay không? Vì sao?

 Phn II. Làm văn (7,0 đim)

Câu 1. (2,0 đim)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về sức mạnh nghị lực của con người trong cuộc sống.

41
19 tháng 8 2021

mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau

19 tháng 8 2021

Phần I 

Câu 1:

Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.

Câu 2:

Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.

Câu 3:

Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.

Câu 4:

Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.

Phần II

Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của  rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con  rùa, nó  không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.

Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.

Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:

“Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”

Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.

           Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời

Tình mẹ, một tình cảm thiêng liêng, cao quý luôn hiện hữu trong mỗi người con dành cho đấng sinh thành của mình. "Lên non mới biết non cao, Có con mới biết công lao mẹ già!". Tình yêu của người mẹ hiền dành cho mỗi chúng ta, không thể nói hết bằng lời. Và cho dù có đi, ở đâu thì đúng thật, không ai tốt, chăm sóc, lo lắng cho chúng ta bằng chính cha mẹ... Cô học trò nhỏ, con gái của độc...
Đọc tiếp

Tình mẹ, một tình cảm thiêng liêng, cao quý luôn hiện hữu trong mỗi người con dành cho đấng sinh thành của mình. "Lên non mới biết non cao, Có con mới biết công lao mẹ già!". Tình yêu của người mẹ hiền dành cho mỗi chúng ta, không thể nói hết bằng lời. Và cho dù có đi, ở đâu thì đúng thật, không ai tốt, chăm sóc, lo lắng cho chúng ta bằng chính cha mẹ...

Cô học trò nhỏ, con gái của độc giả Trần Thị Sương, đang học lớp 10 chuyên Hóa Trường THPT chuyên Lê Quí Đôn (Đà Nẵng) đã gửi gắm những tình cảm thiêng liêng dành cho mẹ vào trong chính bài văn của mình. Mời độc giả cùng theo dõi:

Mọi người chúng ta ai cũng được sinh ra và lớn lên trong vòng tay âu yếm của mẹ hiền. Vẫn biết bên mình có biêt bao nhiêu người thân yêu - đến trường ta có bạn bè thân thương, có ngôi trường thương mến, có thầy cô kính yêu hằng ngày vỗ về, dạy dỗ ... nhưng chắc chẵn có ai không cảm nhận được tình yêu thương đầy ắp, nồng ấm của người mẹ hiền đi theo ta đến suốt cuộc đời là cao cả nhất.


Tình yêu đó cứ lớn dần theo năm tháng, đến bây giờ khi bước chân vào trường trung học phổ thông ta mới phần nào hiểu được tình yêu thiêng liêng của mẹ.

Một sớm mai thức dậy, ta đã cảm nhận được bàn tay mẹ hiền ôm ấp đêm qua, giờ đây lại chuẩn bị nắm cơm buổi sáng trước lúc ta đến trường. Khi ta vào lớp, bàn tay mẹ lại tần tảo nắng mưa ngoài nương rẫy lo cho ta buổi cơm thường nhật, từng mãnh áo ấm trong những tiết trời lập đông. Cứ thế, tình mẫu tử luôn hiện hữu, cứ mãi chở che, mơn trớn, vỗ về, yêu thương, trìu mến trên mỗi nẻo đường con đến lớp.

Tình mẹ tràn đầy, trinh trắng như mặt nước hồ thu buổi sớm mà vẫn chân chất, mộc mạc, gần gũi tinh tươm tựa trang giấy học trò. Có lẽ khi con người còn chưa biết mặt chữ thì tình mẫu tử đã thể hiện đủ đầy, lung linh như ánh trăng rằm trong những câu ca dân gian xưa. Nay trên tất cả các phương tiện trao đổi thông tin, nghệ thuật, hình ảnh người mẹ lại càng được tôn vinh hơn nhưng chắc vẫn chưa bao giờ đủ để nói lên sự hy sinh và tình yêu người mẹ dành cho ta.

Từ tấm bé, khi biết cảm nhận cuộc đời, tình mẹ luôn dần lớn lên bên con theo năm tháng...

“ Ầu ơ ... ví dầu cầu ván đóng đinh, Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi, Khó đi mẹ dắt con đi...”

Câu hát ru con bất ngờ của nhà ai hàng xóm trong đêm sâu quạnh quẽ của miền quê có lẽ cũng đủ đưa ta theo nguồn yêu thương của tình mẹ bao la! Tình mẹ thể hiện mọi nơi trên trái đất nầy với bất kỳ không gian nào. Một sớm mai trong bài giảng của Thầy ở lớp, vẫn còn nhớ như in câu hò đầm ấm, du dương mà mênh mông tình mẫu tử:

“Hò ơ! Mẹ già như chuối chín cây, Gió lay mẹ rụng... gió lay mẹ rụng ... con phải mồ côi!”

Buổi chiều về, đem cảm xúc nầy thổ lộ với Ba, con lại nghe Ba sụt sùi tiếc thương đã một lần lầm lỡ khi vô tình để mẹ buồn lúc tuổi thời cắp sách. Ba rất sợ mồ côi chăng? Có lẽ thế! Mồ côi với tình yêu thiêng liêng bất tận! mồ côi bàn tay chăm bẵm tự buổi sơ sinh! Mồ côi sự chở che từ tấm bé! Mồ côi ngay cả lúc đã là người lớn như Ba! Mồ côi sự nuông chiều trong thời thơ dại! Mồ côi cả trong buổi xế chiều!... Ba chỉ ngậm ngùi đọc câu ca dao xưa cũ:

“Công cha như núi Thái sơn.

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

Ta chợt rùng mình sợ hãi thật sự nếu trên đời nầy, ta hay bất kỳ ai lỡ thiếu vắng đi một tình yêu thương của mẹ hiền!

Một đêm sốt xoàng thôi ta đủ biết mẹ chẳng bao giờ yên giấc, bàn tay mẹ nhẹ nhàng sờ trán thăm khám nhiệt độ, đắp chăn, tất tả lo thuốc men, rồi mẹ nấu lá xông mà khi nhỏ ta cứ ngỡ nồi lá xông là thuốc thần để con hết bệnh!

“Con ho lòng mẹ tan tành, Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi”.

Cơn sốt của con đã là cơn lửa đốt lòng mẹ! Cơn ho của con chắc đã làm khuôn mặt mẹ thêm hằn những vết chân chim!

Hình ảnh người mẹ luôn bên đời ấm áp, mãi hy sinh, chở che! Cất tiếng khóc đầu tiên chào đời là ta đã nằm trọn trong tình yêu thương đó. Từng bước đi chập chững trước tiên của đời người, ai đã cầm tay ta dắt đi từng bước một? khi lỡ ngã đau, ai lên tiếng xít xoa? Cảm nhận được nổi đau lúc nầy là ai ngoài mẹ? Ai mừng vui nhất khi ta cất tiếng nói bi bô? Khi bước chân vào trường, đằng sau ta không bao giờ thiếu vắng cặp mắt dõi theo đầy lo lắng của mẹ hiền! Và có ai tả được ánh mắt mừng vui của mẹ mỗi khi ta được điểm mười ?

Giờ đây, khi ngồi trên ghế nhà trường với những trang sách mới thơm tho như còn phảng phất mùi hương lúa mới đồng quê và những giọt mồ hôi tảo tần của mẹ, với bộ trang phục màu xanh hôm nay đây chắc không thiếu đi niềm hy vọng cho con nên người tự miền quê xa lắc! Khi phố lên đèn ta chắc mẹ mới rời công việc đồng áng, thoăn thoắt bước chân về nhà dưới làn sương đêm mà mẹ chưa một lần ta thán!

Còn nhớ như in những lúc học bài khuya, mẹ vẫn thức cùng con và ngồi bên may vá, khâu lại từng chiếc khuy, đắp bạ từng mãnh vai áo đã sờn. Ngồi bên con, chắc mẹ sợ con thức khuya không đủ sức mai dậy sớm đến trường, mẹ lại tất tả lo cho con từng ly nước cam ngọt lịm tình yêu thương. Đến khi con chim nhạn lạc bầy kêu sương đâu đó giữa không gian miên mang của đêm miền quê xứ Quảng, con lại lo rằng để mẹ cùng thức quá khuya làm sao ngày mai mẹ tiếp tục ra đồng dưới nắng?

Cũng đã có nhiều lần phạm lỗi, sau cái nhìn nghiêm khắc của mẹ, ta vẫn nhận được sự vỗ về bằng những lời khuyên mộc mạc, chân tình nhưng lắng sâu nỗi bao dung. Mỗi lần như vậy, con như lớn thêm lên, cứng cáp hơn lên và tự hứa với lòng sẽ không bao giờ phạm lỗi. Ta có biết đâu tuổi thơ vẫn cứ êm đềm trôi đi trong lúc lưng mẹ ngày thêm còng xuống theo dấu ấn ngiệt ngã của tháng năm, lỗi lầm xưa con e rằng chưa có dịp nào chuộc lại, tóc mẹ lại trắng thêm khi ta chưa kịp nên người!

Ngày tựu trường phổ thông trung học chuyên, hai mẹ con rụt rè trên phố như không khí “ngày tựu trường đầu tiên” của Thanh Tịnh. Trong trang phục của quê nghèo lạ lẩm tại góc phố phồn hoa nhưng con vẫn cảm nhận được sự rắn rỏi, cứng cáp của mẹ để con vững tin mà tiếp xúc môi trường mới mẽ. Có ai đó thì thầm xót xa, ái ngại nhưng có gì đâu? Người ta có thể có nhiều thứ hơn nhưng con vẫn tin rằng con đã có một gia sản quí nhất trên đời chưa chắc ai sánh kịp đó là tình mẹ của con!

Hôm nay trên chiếc xe đạp mẹ mua cho con vẫn còn thơm mùi sơn mới, con đến trường trong niềm hân hoan như đang trong vòng tay mẹ, con đã tiếp cận môi trường mới, Thầy cô mới, bạn bè mới trong veo tuổi thơ học trò, con chắc vẫn không bao giờ thiếu sự lo lắng, nhớ thương của người mẹ hiền tần tảo.

Cuộc đời mẹ là cả một đời mãi hy sinh cho con, tình yêu của mẹ dành cho con mênh mông như trời biển vẫn như câu ca dao xưa đó thôi: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, và nước trong nguồn vẫn luôn chảy mãi như để tình mẹ luôn tồn tại vĩnh hằng!

Giờ đây, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tưởng như báo đáp công ơn trời biển của mẹ bằng cả sự quyết tâm học hành của con! Con hứa với mẹ con sẽ giữ mãi màu xanh đồng phục của con bên cạnh bạn bè con, của trường con luôn trong sáng như niềm tự hào của chính con, như niềm hy vọng ngọt ngào vô tư của mẹ hiền dành cho con.

Mẹ ơi! Tình mẹ thật bao la! Con chỉ là đứa bé thích luôn được nằm trong vòng tay âu yếm, trìu mến của mẹ, của gia đình! Con nguyện sẽ gắng học thật tốt để rèn luyện bản thân con nên người, góp một phần nhỏ bé cho xã hội, đem lại nguồn vui, niềm hy vọng cho mẹ, cho gia đình thương yêu của mình./.

6
10 tháng 11 2016

hay quáeoeo

13 tháng 11 2016

"Ỷ Lan" là ai thế bn?!? batngo

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:(1) Vấn đề nhìn nhận đánh giá đúng vị trí, vai trò của lịch sử là vô cùng quan trọng bởi vì lịch sử chính là điểm tựa của chúng ta, là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị tinh thần vô giá của dân tộc. Lịch sử giúp cho chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng vào truyền thống anh hùng, bất khuất, mưu trí, sáng tạo...
Đọc tiếp

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:

(1) Vấn đề nhìn nhận đánh giá đúng vị trí, vai trò của lịch sử là vô cùng quan trọng bởi vì lịch sử chính là điểm tựa của chúng ta, là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị tinh thần vô giá của dân tộc. Lịch sử giúp cho chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng vào truyền thống anh hùng, bất khuất, mưu trí, sáng tạo của tổ tiên và hy vọng vào tiền đồ, tương lai tươi sáng của dân tộc. Chính vì vậy, tất cả chúng ta cần phải hăng hái, tự giác học lịch sử nước nhà để có thể đón nhận được những thông tin, tiếp thu được những kinh nghiệm quí báu từ xa xưa vận dụng vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Tổ quốc.

(2) Lịch sử không chỉ truyền dạy cho chúng ta nguồn gốc con Rồng, cháu Tiên mà lịch sử còn tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta, truyền lại cho chúng ta quá khứ vẻ vang của dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, thời nào đất nước ta cũng xuất hiện những nhân tài có công trị nước yên dân, xây dựng cuộc sống thanh bình, hạnh phúc. Đặc biệt là những khi Tổ quốc bị xâm lăng, từ những người nông dân áo vải bình dị đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt có lòng yêu nước nồng nàn, có tài cầm quân thao lược đánh Bắc, dẹp Nam giữ yên bờ cõi, trở thành tấm gương sáng, để lại tiếng thơm cho muôn đời.

(TS. Phạm Ngọc Trung, Học viện Báo chí và Tuyên truyền)

Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

Câu 2. Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào?  

Câu 3. Nêu nội dung chính của đoạn trích

Câu 4: Anh/chị hãy nêu vai trò của môn lịch sử trong trường THPT theo quan điểm riêng của mình.Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. 
 

1
27 tháng 9 2025
Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Đoạn trích được viết theo phong cách ngôn ngữ văn nghị luận, vì nó nêu lên một quan điểm, một lập luận về vai trò và tầm quan trọng của lịch sử, đồng thời dùng lý lẽ và dẫn chứng để thuyết phục người đọc.  Câu 2. Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? Trong đoạn (2), tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận bình luận và chứng minh. Tác giả bình luận về những di sản mà lịch sử mang lại (nguồn gốc, sức mạnh) và chứng minh điều đó bằng cách dẫn chứng về những nhân tài, anh hùng hào kiệt đã xuất hiện qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.  Câu 3. Nêu nội dung chính của đoạn trích Nội dung chính của đoạn trích là khẳng định tầm quan trọng của việc học và nghiên cứu lịch sử, nhấn mạnh vai trò của nó trong việc cung cấp điểm tựa tinh thần, truyền lại quá khứ vẻ vang, tiếp thêm sức mạnh và bài học kinh nghiệm từ tổ tiên, từ đó xây dựng niềm tự hào dân tộc và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước.  Câu 4: Anh/chị hãy nêu vai trò của môn lịch sử trong trường THPT theo quan điểm riêng của mình. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. Trong trường THPT, môn Lịch sử có vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc. Nó giúp học sinh hiểu rõ cội nguồn, biết được quá khứ hào hùng của dân tộc, từ đó xây dựng ý thức trách nhiệm bảo vệ và phát triển đất nước. Môn Lịch sử cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu từ quá khứ để đối mặt với thử thách trong tương lai, hình thành cho học sinh một bản lĩnh vững vàng và nhân cách tốt đẹp. 
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨUTình bạn năm cuối cấp – nguồn động lực giúp học sinh lớp 12 vượt qua áp lực thi cử1. Lý do chọn đề tàiLớp 12 là giai đoạn đầy áp lực khi học sinh phải chuẩn bị cho kỳ thi quan trọng, mang tính quyết định đối với tương lai. Trong khoảng thời gian này, mỗi người đều phải đối mặt với sự mệt mỏi, lo lắng và căng thẳng. Chính vì thế, tình bạn chân...
Đọc tiếp
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Tình bạn năm cuối cấp – nguồn động lực giúp học sinh lớp 12 vượt qua áp lực thi cử

1. Lý do chọn đề tài

Lớp 12 là giai đoạn đầy áp lực khi học sinh phải chuẩn bị cho kỳ thi quan trọng, mang tính quyết định đối với tương lai. Trong khoảng thời gian này, mỗi người đều phải đối mặt với sự mệt mỏi, lo lắng và căng thẳng. Chính vì thế, tình bạn chân thành giữa các học sinh trở thành nguồn động viên quý giá, giúp mọi người cùng nhau cố gắng, giữ vững tinh thần và niềm tin vào bản thân.

Xuất phát từ thực tế đó, em chọn nghiên cứu đề tài “Tình bạn năm cuối cấp – nguồn động lực giúp học sinh lớp 12 vượt qua áp lực thi cử” nhằm tìm hiểu sâu hơn về giá trị của tình bạn, cũng như cách tình bạn tác động đến tinh thần học tập và cảm xúc của học sinh trong năm học cuối cùng.

2. Mục đích nghiên cứu

Khám phá vai trò của tình bạn trong việc hỗ trợ, động viên tinh thần học sinh lớp 12 trước và trong kỳ thi quan trọng.

Tìm hiểu những biểu hiện, hành động cụ thể cho thấy bạn bè giúp nhau vượt qua áp lực học tập và thi cử.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 12 tại trường THPT Sông Công

Phạm vi nghiên cứu: Tình bạn và các hoạt động, cảm xúc, hành động hỗ trợ nhau giữa học sinh lớp 12 trong học tập và chuẩn bị thi cử.


4. Phương pháp nghiên cứu

Quan sát và ghi chép: Theo dõi những biểu hiện, hành động giúp đỡ nhau trong học tập giữa các bạn học sinh.

Phỏng vấn – trao đổi: Hỏi ý kiến một số bạn học sinh lớp 12 về cảm nhận của họ đối với tình bạn trong năm cuối.

Khảo sát bằng phiếu hỏi: Thu thập ý kiến từ nhiều học sinh về mức độ ảnh hưởng của tình bạn đến tinh thần học tập.

Tổng hợp và phân tích: Xử lý các thông tin thu được để rút ra nhận xét và kết luận chung.

5. Dự kiến kết quả nghiên cứu

Làm rõ được vai trò tích cực của tình bạn trong việc giảm căng thẳng và tạo động lực cho học sinh lớp 12.

Đưa ra một số hình thức, hoạt động giúp tăng cường sự gắn kết và hỗ trợ lẫn nhau giữa bạn bè trong năm cuối cấp.

Góp phần xây dựng môi trường học tập thân thiện, tích cực và đầy cảm thông.

6. Kế hoạch thực hiện

Thời gian Nội dung công việc

Tuần 1 Xác định đề tài, mục tiêu và lập kế hoạch nghiên cứu.
Tuần 2 Tìm tài liệu, xây dựng câu hỏi khảo sát và bảng phỏng vấn.
Tuần 3 Tiến hành khảo sát, phỏng vấn và ghi chép thực tế.
Tuần 4 Tổng hợp, phân tích dữ liệu thu được.
Tuần 5 Viết báo cáo, chỉnh sửa và hoàn thiện sản phẩm nghiên cứu


0
1. Đặt vấn đềSử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người...
Đọc tiếp

1. Đặt vấn đề

Sử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người Ê-đê được hiện lên rõ nét và trở thành một điểm nhấn thú vị, đáng để khám phá.

2. Giải quyết vấn đề

a. Kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Trước hết, kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" gắn liền với hình ảnh nhà sàn dài. Nhà sàn dài là kiến trúc độc đáo và đặc biệt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Đặc trưng của nhà dài Tây Nguyên bao gồm: hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí vật dụng trên mặt bằng sinh hoạt. Điều này được miêu tả rất rõ trong đoạn trích ở các chi tiết: "Chồm lên hai lần, chàng leo hết cầu thang. Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần sàn sân làm như vỗ cánh, bảy hàng cột nhà chao qua chao lại từ đông sang tây", "cầu thang trông như cái cầu vồng", "tòa nhà dài dằng dặc", "voi vây chặt sàn sân", "các xà ngang xà dọc đều thếp vàng". Hình ảnh nhà sàn dài dằng dặc, cầu thang, xà ngang xuất hiện nhiều lần và được lặp đi lặp lại cho thấy dấu ấn kiến trúc nhà ở đặc trưng của đồng bào người Ê-đê. Tuy kiến trúc nhà ở không được miêu tả một cách tỉ mỉ nhưng những hình ảnh tiêu biểu như vậy cũng đủ để làm đồng hiện nền văn hóa đặc sắc của vùng Tây Nguyên.

b. Sinh hoạt của người Ê-đê trong không gian nhà ở trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Không gian nhà dài chính là nơi cư trú của người dân Ê-đê. Tại đây diễn ra rất nhiều hoạt động gắn liền với văn hóa của người Ê-đê như hội họp, ăn mừng, kể chuyện sử thi, tổ chức nghi lễ thờ cúng thần linh,... Đoạn văn trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" đã miêu tả lại khung cảnh của người dân như sau: "tôi tớ trải dưới một chiếu trắng, trải trên một chiếu đỏ làm chỗ ngồi cho nhà tù trưởng. Rồi họ đem thuốc sợi cả hòm đồng, thuốc lá cả sọt đại, trầu vỏ cả gùi to, không còn sợ thiếu thuốc thiếu trần cho Đăm Săn ăn, hút. Họ đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa êpang, sáng như ánh mặt trời, nấu cơm mời khách. Họ đi lấy rượu, đem một ché tuk da lươn, một ché êbah Mnông, trên vẽ hoa kơ-ụ, dưới lượn hoa văn, tai ché hình mỏ vẹt xâu lỗ. Đó là những cái ché ngã giá phải ba voi. Ai đi lấy nước cứ đi lấy nước, ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần. Cần cắm rồi, người ta mời Đăm Săn vào uống.". Các vật dụng xuất hiện trong đoạn văn như: ché tuk, ché êbah, là những đồ vật được làm bằng gốm với hình hoa văn đa dạng, được xem là những đồ vật quý của người Ê-đê. Nó biểu thị cho sự sung túc, giàu có, phải "ngã giá bằng ba voi" mới có được.

Hơn nữa, đoạn văn còn làm nổi bật được hoạt động và tính cách của người dân Ê-đê. Để thiết đãi vị tù trưởng Đăm Săn - vị khách quý của buôn làng, người dân nô nức thi nhau mang ra những món ăn ngon nhất, những loại thuốc quý nhất để thiết đãi: thuốc sợi, thuốc lá, trầu vỏ, gà mái ấp, gà mái đẻ, gạo trắng. Người Ê-đê hiện lên với nét tính cách xởi lởi, hào phóng, nồng hậu. Những hoạt động thiết đãi tù trưởng Đăm Săn cũng chính là những hoạt động của dân làng khi tiếp đón những vị khách quý từ phương xa.

Bên cạnh đó, chi tiết "chiêng xếp đầy nhà ngoài", "cồng chất đầy nhà trong" và "ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần" đã phản ánh phong tục đánh cồng chiêng và uống rượu cần của người dân vùng Tây Nguyên. Cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà nó còn chứa đựng giá trị văn hóa của cộng đồng người Ê-đê. Chính vì vậy, chi tiết Đăm Săn đến nhà Nữ Thần Mặt Trời thấy hình ảnh "chiêng xếp đầy nhà ngoài, cồng xếp đầy nhà trong" biểu thị cho sự quyền lực và giàu có. Người Ê-đê tin rằng: mỗi một chiếc cồng đều ẩn chứa một vị thần cho nên càng nhiều cồng, cồng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Ngoài ra, tục uống rượu cần cũng là một nét đẹp văn hóa trong đời sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Rượu cần trong đoạn trích chính là phương tiện để gắn kết tình cảm giữa người tù trưởng Đăm Săn và Đăm Par Kvây. Rượu không chỉ đóng vai trò trong các buổi thực hành nghi lễ để cầu xin đấng thần linh mà nó còn thể hiện đầy đủ tinh thần tập thể của cộng đồng, lòng mến khách của chủ nhà.

Có thể nói, những vật dụng trong căn nhà của người Ê-đê không chỉ gắn liền với hoạt động sống mà còn phản ánh được tính cách, sự giàu có, phồn vinh của cả một cộng đồng.

3. Kết luận

Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là đoạn trích quan trọng của sử thi "Đăm Săn". Đoạn trích không chỉ khắc họa vẻ đẹp phi thường, khát vọng mãnh liệt của người anh hùng Đăm Săn mà qua đó, chúng ta còn thấy được những nét đẹp văn hóa, đặc biệt là không gian sinh hoạt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Sử thi "Đăm Săn" cho thấy kiến trúc nhà dài, vật dụng gắn liền với sinh hoạt và lối sống, tính cách của đồng bào người Ê-đê. Các giá trị vật chất, tinh thần của người Ê-đê trong thời đại mới cần phải được bảo tồn và phát huy hơn nữa.

1
30 tháng 11 2025

Tài liệu tham khảo này tu đâu


ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU: GIÁ TRỊ NỘI DUNG TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO CỦA NAM CAOI. ĐẶT VẤN ĐỀ1. Lý do chọn đề tài:- Tác phẩm chứa đựng những giá trị nội dung có ý nghĩa thời sự và lâu dài, góp phần quan trọng trong việc giáo dục nhận thức và bồi dưỡng tâm hồn cho người đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ.- Nghiên cứu giá trị nội dung giúp hiểu rõ hơn về tư tưởng, nghệ thuật của Nam Cao...
Đọc tiếp

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU: GIÁ TRỊ NỘI DUNG TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO CỦA NAM CAO
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
- Tác phẩm chứa đựng những giá trị nội dung có ý nghĩa thời sự và lâu dài, góp phần quan trọng trong việc giáo dục nhận thức và bồi dưỡng tâm hồn cho người đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ.
- Nghiên cứu giá trị nội dung giúp hiểu rõ hơn về tư tưởng, nghệ thuật của Nam Cao và tầm vóc của tác phẩm.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Giá trị nội dung của truyện ngắn "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao.
- Phạm vi: Tập trung phân tích các tầng nghĩa, tư tưởng mà tác phẩm truyền tải, xoay quanh số phận con người, hiện thực xã hội, và triết lý sống được nhà văn gửi gắm.
. Mục đích nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ những giá trị nội dung nổi bật của tác phẩm "Chí Phèo"
- Phân tích cách Nam Cao xây dựng nội dung và nhân vật
- Khẳng định ý nghĩa, tầm vóc của tác phẩm trong nền văn học Việt Nam và giá trị giáo dục, nhận thức đối với người đọc ngày nay.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học.
- Phương pháp thống kê, phân loại.
- Phương pháp so sánh, tổng hợp.
Phương pháp tiếp cận theo hướng loại hình văn học (truyện ngắn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa nhân đạo).
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TIỀN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Giới thiệu chung về tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo:
* Tác giả Nam Cao: Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, quan điểm nghệ thuật, phong cách văn học (đặc biệt là giai đoạn hiện thực phê phán và chủ nghĩa nhân đạo).
* Tác phẩm Chí Phèo:
* Hoàn cảnh ra đời, vị trí trong sự nghiệp của Nam Cao và trong nền văn học dân tộc.
* Tóm tắt cốt truyện chính.
1.2. Các khái niệm cơ bản:
* Giá trị nội dung: Bao gồm các ý nghĩa về hiện thực, tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ mà tác phẩm mang lại.
* Chủ nghĩa hiện thực phê phán: Đặc điểm, vai trò trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945.
* Chủ nghĩa nhân đạo: Biểu hiện, ý nghĩa trong các tác phẩm văn học.
1.3. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về "Chí Phèo":
* Tổng quan về các bài phê bình, nghiên cứu, luận văn đã có về giá trị nội dung của tác phẩm.
* Nhận diện những khía cạnh đã được khai thác sâu và những vấn đề còn có thể tiếp tục tìm hiểu.
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ NỘI DUNG TRONG TÁC PHẨM CHÍ PHÈO
2.1. Giá trị hiện thực: Bức tranh chân thực về xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.
* Bức tranh về tầng lớp nông dân:
* Số phận bi thảm, bị lưu manh hóa, tha hóa trong xã hội cũ. Phân tích quá trình biến đổi của Chí Phèo từ người nông dân lương thiện thành kẻ lưu manh.
* Cuộc sống cùng quẫn, bế tắc, không lối thoát của người nông dân dưới ách thống trị của giai cấp cường hào, ác bá và nhà tù thực dân.
* Bức tranh về xã hội:
* Sự tàn bạo, bất công của xã hội phong kiến thực dân. Vai trò của bọn cường hào, ác bá (Bá Kiến) trong việc đẩy con người vào bước đường cùng.
* Luận điệu về sự tha hóa, hủy hoại nhân hình, nhân tính của con người trong xã hội đó.
2.2. Giá trị nhân đạo: Tấm lòng yêu thương và niềm tin vào bản chất con người.
* Tố cáo tội ác của xã hội:
* Sự lên án gay gắt đối với xã hội đã "trù úm" con người, "bóp chết" nhân hình và nhân tính của họ.
* Phân tích những chi tiết thể hiện sự tàn bạo của xã hội đối với Chí Phèo.
* Đồng cảm, xót thương cho số phận con người:
* Cảm thông sâu sắc với bi kịch của Chí Phèo, một con người "trước hết là nạn nhân".
* Phân tích những khát vọng lương thiện, chính đáng của con người ngay cả khi họ đã sa ngã.
* Khẳng định, trân trọng vẻ đẹp, bản chất tốt đẹp của con người:
* Niềm tin mãnh liệt vào "cái thiện còn ẩn náu" trong con người, dù bị vùi dập. Phân tích sự thức tỉnh lương tri của Chí Phèo khi gặp Thị Nở.
* Hình ảnh Thị Nở - một biểu tượng của vẻ đẹp tâm hồn bình dị, tình người.
* Khẳng định khát vọng được sống, được làm người lương thiện là điều cốt lõi, thiêng liêng nhất.
* Lời cảnh tỉnh về tương lai:
* Ý nghĩa cảnh báo về số phận của những người nông dân nếu xã hội không thay đổi.
2.3. Ý nghĩa tư tưởng và nghệ thuật của giá trị nội dung:
* Thông điệp nhân văn sâu sắc mà tác phẩm gửi gắm.
* Tầm quan trọng của việc trân trọng, bảo vệ giá trị làm người.
* Sự gắn kết giữa giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật (nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, miêu tả tâm lí, ngôn ngữ...).
KẾT LUẬN
1. Khái quát lại những giá trị nội dung chính của tác phẩm "Chí Phèo".
2. Nhấn mạnh ý nghĩa, tầm vóc của tác phẩm trong nền văn học và đối với người đọc hiện nay.

3. Định hướng những vấn đề có thể để nghiên cứu sâu hơn.

0
17 tháng 3 2016

Mình nghĩ triết lí đó là: vật chất không quan trọng mà quan trọng chính là tấm lòng.

~amen~

28 tháng 4 2016

n