K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

1 tháng 10 2025

Mùa hè năm ngoái, em có dịp theo gia đình đi du lịch thành phố biển Nha Trang xinh đẹp. Trong chuyến đi ấy, điều khiến em ấn tượng và nhớ mãi không chỉ là biển xanh, cát trắng mà còn là lần đầu tiên được đến tham quan di tích lịch sử – văn hóa Tháp Bà Ponagar, một công trình kiến trúc độc đáo gắn liền với nền văn hóa Chăm Pa cổ xưa.

Hôm đó, trời nắng đẹp. Sau bữa sáng, cả nhà em lên xe đến khu di tích Tháp Bà, nằm trên ngọn đồi nhỏ ở phía bắc thành phố, gần cửa sông Cái. Ngay từ xa, em đã nhìn thấy những ngọn tháp màu nâu đỏ hiện lên nổi bật giữa nền trời xanh, giữa bốn bề cây cối xanh tươi.

Bước qua cổng khu di tích, em không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp cổ kính và trang nghiêm của nơi đây. Quần thể Tháp Bà gồm nhiều tháp lớn nhỏ, trong đó nổi bật nhất là ngọn tháp chính thờ nữ thần Ponagar, người được coi là Mẹ xứ sở, là vị thần sáng tạo ra trái đất và dạy dân Chăm trồng trọt, dệt vải. Tháp được xây bằng gạch nung đỏ, cao khoảng 23 mét, với những hoa văn, phù điêu chạm trổ tinh xảo. Em ngạc nhiên khi nghe hướng dẫn viên nói rằng người Chăm xưa đã xây tháp hoàn toàn bằng gạch mà không cần đến chất kết dính như vôi vữa, và đến nay, công nghệ đó vẫn là điều bí ẩn.

Trong không gian yên tĩnh, tiếng chuông chùa, mùi nhang thơm và những lời cầu nguyện vang lên khiến em cảm nhận được sự linh thiêng của nơi này. Em cũng được tận mắt thấy các nghệ nhân Chăm biểu diễn múa truyền thống và chơi đàn đá, đàn T’rưng. Những điệu múa uyển chuyển, mềm mại trong trang phục truyền thống càng làm nổi bật vẻ đẹp văn hóa của dân tộc Chăm Pa.

Chuyến tham quan Tháp Bà Ponagar đã giúp em mở rộng hiểu biết về lịch sử và văn hóa dân tộc. Em cảm thấy tự hào khi đất nước Việt Nam có nhiều di tích quý giá như vậy, và càng trân trọng hơn những giá trị văn hóa truyền thống cần được gìn giữ và bảo tồn.

Đó là một chuyến đi không chỉ vui vẻ, bổ ích mà còn để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc.

Trong bài thơ "Ta đi tới" của tác giả Tố Hứu , bài thơ có rất nhiều chi tiết đặc biệt ấn tượng .Qua đoạn thơ, ta cảm nhận được tình cảm gắn bó, niềm tự hào với vẻ đẹp thiên nhiên đất nước. Kết hợp với việc sử dụng các biện pháp tu từ như liệt kê, đảo ngữ, những câu thơ hiện lên một cách hấp dẫn, giàu tính biểu cảm, khắc họa một bức tranh rực rỡ, tươi sáng: rừng...
Đọc tiếp

Trong bài thơ "Ta đi tới" của tác giả Tố Hứu , bài thơ có rất nhiều chi tiết đặc biệt ấn tượng .Qua đoạn thơ, ta cảm nhận được tình cảm gắn bó, niềm tự hào với vẻ đẹp thiên nhiên đất nước. Kết hợp với việc sử dụng các biện pháp tu từ như liệt kê, đảo ngữ, những câu thơ hiện lên một cách hấp dẫn, giàu tính biểu cảm, khắc họa một bức tranh rực rỡ, tươi sáng: rừng cọ xanh tươi và đồi chè xanh ngát màu lá tạo nên một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp. Ánh nắng chói chang của mặt trời chiếu xuống sông Lô, làm cho dòng nước trong veo tỏa sáng lấp lánh. Tiếng hò ô vang lên từ những người dân vui tươi hát ca, mang theo niềm vui và sự phấn khởi của cuộc sống. Những chuyến phà trên bến nước Bình Ca, giữa những dòng sóng nhe, gợi lên một không gian bình yên. Đoạn thơ khiếm em tràn đầy niềm tự hào và biết ơn với đất nước mình- một nơi được vẽ lên từ những khung cảnh tuyệt đẹp và hấp dẫn.

0
Tuổi thơ chở đầy cổ tíchDòng sông lời mẹ ngọt ngàoĐưa con đi cùng đất nướcChòng chành nhịp võng ca daoCon gặp trong lời mẹ hátCánh cò trắng, dải đồng xanhCon yêu màu vàng hoa mướp“Con gà cục tác lá chanh”.Khóm trúc, lùm tre huyền thoại,Lời ru vấn vít dây trầu,Vầng trăng mẹ thời con gái,Vẫn còn thơm ngát hương cau.Con nghe thập thình tiếng cốiMẹ ngồi giã gạo nuôi conLạy trời đừng...
Đọc tiếp

Tuổi thơ chở đầy cổ tích
Dòng sông lời mẹ ngọt ngào
Đưa con đi cùng đất nước
Chòng chành nhịp võng ca dao

Con gặp trong lời mẹ hát
Cánh cò trắng, dải đồng xanh
Con yêu màu vàng hoa mướp
“Con gà cục tác lá chanh”.

Khóm trúc, lùm tre huyền thoại,
Lời ru vấn vít dây trầu,
Vầng trăng mẹ thời con gái,
Vẫn còn thơm ngát hương cau.

Con nghe thập thình tiếng cối
Mẹ ngồi giã gạo nuôi con
Lạy trời đừng giông đừng bão
Cho nồi cơm mẹ đầy hơn…

Con nghe dập dờn sóng lúa
Lời ru hoá hạt gạo rồi
Thương mẹ một đời khốn khó
Vẫn giàu những tiếng ru nôi.

Áo mẹ bạc phơ bạc phếch
Vải nâu bục mối chỉ sờn
Thương mẹ một đời cay đắng
Sao lời mẹ vẫn thảo thơm.

Thời gian chạy qua tóc mẹ
Một màu trắng đến nôn nao
Lưng mẹ cứ còng dần xuống
Cho con ngày một thêm cao.

Mẹ ơi trong lời mẹ hát
Có cả cuộc đời hiện ra
Lời ru chắp con đôi cánh
Lớn rồi con sẽ bay xa.

bài này có dùng nhịp 2/2/2 không mọi người, nếu có thì ở những câu nào vậy ạ?

5

tác giả Nguyễn Bính đã khắc họa hai vẻ đẹp đối lập mà thống nhất của con người và mảnh đất Việt Nam qua hai khổ thơ trong bài "Quê hương". Khổ đầu tiên mở ra không gian văn hóa đậm chất thơ mộng, nơi con người gắn bó với âm nhạc và thi ca từ khi còn trong bụng mẹ.Hình ảnh "tiếng hát, "làm thơ" không chỉ thể hiện sự lãng mạn, hồn hậu mà còn là nét tính cách đặc trưng của người dân quê. Cánh cò đưa võng, vốn là hình ảnh bình dị, nay trở thành biểu tượng nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ trong một không gian yên bình. tuy nhiên, khi quê hương lâm nguy, vẻ đẹp hiền hòa bỗng chốc hóa thành sức mạnh quật cường. Khổ thơ thứ hai chuyển sang giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng. Tre làng, vốn thân thuộc, nay "xả thân làm ngọn mác, mũi chông", trở thành vũ khí chiến đấu. Con người, từ "trai gái thôn Đông, xóm Bắc" hiền lành, chất phác, đã "thoắt vươn vai thành những anh hùng".Hai khổ thơ này bổ sung cho nhau, tạo nên cái nhìn toàn diện về quê hương: vừa có vẻ đẹp trữ tình, thanh bình trong cuộc sống thường nhật, vừa chứa đựng sức mạnh tiềm tàng,tinh thần kiên cường khi đối diện với kẻ thù

Hai khổ thơ trong bài "Quê hương" của Nguyễn Bính thể hiện tình cảm sâu sắc của tác giả đối với mảnh đất quê hương, đồng thời ca ngợi những phẩm chất đặc biệt của con người nơi đây.

Khổ thơ đầu tiên gợi ra hình ảnh một quê hương gắn liền với những âm thanh của làn điệu dân ca, là nơi mà trong "bụng mẹ" đã biết mê tiếng hát. Đây là một hình ảnh đầy chất thơ, cho thấy sự hòa quyện giữa con người và quê hương, nơi mà truyền thống văn hóa, đặc biệt là văn học, đã ăn sâu vào tiềm thức từ những ngày đầu đời. Tiếng hát quê hương không chỉ là biểu tượng của sự ấm áp, yêu thương mà còn phản ánh bản sắc dân tộc trong mỗi con người nơi đây.

Khổ thơ thứ hai chuyển hướng, thể hiện tinh thần yêu nước, đấu tranh bảo vệ quê hương. Những "tre làng" trở thành "ngọn mác, mũi chông", tượng trưng cho sự kiên cường của con người khi đối mặt với kẻ thù. Các trai gái thôn Đông, xóm Bắc “thoắt vươn vai thành anh hùng", khẳng định tinh thần bất khuất và sức mạnh đoàn kết của nhân dân trong những giờ phút khó khăn.

Như vậy, qua hai khổ thơ, tác giả Nguyễn Bính đã khắc họa vẻ đẹp của quê hương trong cả khía cạnh văn hóa lẫn tinh thần chiến đấu kiên cường.

1. Tên tuổi : Trần Nhân Tông, tên thật là Trần Khâm  (1258-1308)Quê quán : Thuộc dòng dõi nhà Trần, quê hương ông có nhiều nơi, trong đó có cung Thiên Trường ở Nam Định là nơi ông về thăm và sáng tác thơ. 2. Vị trí của ông trong nền văn học : Là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thời đại nhà Trần, với "tiếng ngân trong đến thẳm sâu" trong lịch sử thi ca Việt Nam.  Ông được...
Đọc tiếp

1. Tên tuổi : Trần Nhân Tông, tên thật là Trần Khâm  (1258-1308)

Quê quán : Thuộc dòng dõi nhà Trần, quê hương ông có nhiều nơi, trong đó có cung Thiên Trường ở Nam Định là nơi ông về thăm và sáng tác thơ. 

2. Vị trí của ông trong nền văn học :

  • Là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thời đại nhà Trần, với "tiếng ngân trong đến thẳm sâu" trong lịch sử thi ca Việt Nam. 
  • Ông được xem là một trong những bậc hiền tài, có tầm nhìn sâu sắc về văn hóa và tư tưởng.
  • 3. Đề tài và phong cách sáng tác :
  • Đề tài:  Chủ yếu xoay quanh tư tưởng Phật giáo "cư trần lạc đạo" (ở đời mà vui với đạo), thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa đời và đạo, giữa triết lý Thiền và cuộc sống. Ông cũng viết về tình yêu đất nước, lòng yêu thương dân tộc và những suy ngẫm về cuộc đời. 
  • Phong cách:  Giản dị, hồn hậu, mang âm hưởng Thiền sâu sắc, gợi mở thế giới tinh thần thanh khiết. 

    4.Những tác phẩm chính :

    • Thơ:  Ông sáng tác nhiều bài thơ hay, tiêu biểu có:
      • Cư trần lạc đạo phú (15)
      • Thiên Trường vãn vọng
      • Đại Hương Hải Ấn thi tập
    • Sách:  Ngoài ra, ông còn viết các sách như Tăng Già Toái Sự, Thạch Thất Mỵ NgữTrung Hưng Thực LụcTruyền Đăng Lục.
    • Di huấn:  Bài kệ Pháp thân thường trụ trước khi nhập diệt là lời huấn ca của Ngài.
0
Họ và tên. năm sinh năm mất, quê quán: sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835, mất ngày5tháng2năm1909 - : Quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Quê nội của ông ở làng Vị Hạ (tục gọi là làng Và), xã Yên Đổ nay là xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.2 Vị Trí của ông trong nền văn họcNguyễn Khuyến là một trong nhà thơ cuối cùng của thời trung đại, được mệnh danh...
Đọc tiếp

Họ và tên. năm sinh năm mất, quê quán: sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835, mất ngày5tháng2năm1909 - : Quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Quê nội của ông ở làng Vị Hạ (tục gọi là làng Và), xã Yên Đổ nay là xã Trung Lương, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

2 Vị Trí của ông trong nền văn học

Nguyễn Khuyến là một trong nhà thơ cuối cùng của thời trung đại, được mệnh danh là “nhà thơ của dân tình và làng cảnh Việt Nam”. Thơ của ông luôn nhẹ nhàng, thấm đẫm bài học về triết lý nhân văn sâu sắc.

3 Đề Tài sáng tác của ông:

Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khuyến trải dài qua nhiều thể loại văn học nhưng nổi bật nhất vẫn là thơ. Ông sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm với nhiều đề tài phong phú, từ tình yêu quê hương, đất nước đến những suy tư về cuộc đời và con người

4 Phong cách sáng tác

Phong cách sáng tác của Nguyễn Khuyến nổi bật với sự giản dị, sâu sắc và tinh tế, thể hiện tình yêu quê hương và cuộc sống nông thôn qua những bài thơ trữ tình và châm biến

5 Những tác phẩm chính

Sáng tác của Nguyễn Khuyến gồm cả chữ Hán và chữ Nôm với số lượng lớn, hiện còn trên 800 bài gồm thơ, văn, câu đối nhưng chủ yếu là thơ. - Các tác phẩm gồm có Quế Sơn Thi Tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu Thi Văn Tập,... cùng nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối truyền miệng.





0
Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn quê tại Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà NamVị trí trong nền văn hoc: Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà giáo dục nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Ông đỗ đầu cả ba kì thi nên thường được gọi là Tam Nguyên Yên ĐổĐề tài sáng tác:Ông sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm...
Đọc tiếp

Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, tên thật là Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn quê tại Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

Vị trí trong nền văn hoc: Ông là một nhà thơ, nhà văn và nhà giáo dục nổi tiếng của Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.Ông đỗ đầu cả ba kì thi nên thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ

Đề tài sáng tác:Ông sáng tác cả thơ chữ Hán và chữ Nôm với nhiều đề tài phong phú, từ tình yêu quê hương, đất nước đến những suy tư về cuộc đời và con người. 

Phong cách sáng tác: Nguyễn Khuyến đã đưa cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống thân thuộc, bình dị của làng quê vào trong thơ một cách tự nhiên tinh tế. Ngòi bút tả cảnh của ông vừa chân thực vừa tài hoa; ngôn ngữ thơ giản dị mà điêu luyện

Các tác phẩm chính: thu vịnh ,thu điếu ,thu ẩm

0