Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Thân kính: Là phần cơ bản của kính hiển vi, bao gồm một ống dài và mỏng có thể điều chỉnh được chiều dài. Thân kính thường được làm bằng kim loại hoặc nhựa có độ bền cao.
Hệ thống ống kính: Gồm một ống kính đơn để tập trung ánh sáng và tạo ra hình ảnh phóng đại của mẫu. Thường có độ phóng đại tối đa từ 40-100 lần.
Ngàm mẫu: Là nơi đặt mẫu để quan sát. Ngàm mẫu thường được làm bằng kim loại hoặc nhựa và được thiết kế để giữ mẫu ổn định trong suốt quá trình quan sát.
Nút điều chỉnh: Là phần có thể điều chỉnh được trên thân kính để tăng giảm độ phóng đại và lấy nét hình ảnh.
Nguồn sáng: Để quan sát mẫu, cần có nguồn sáng để chiếu sáng lên mẫu và tạo ra hình ảnh phóng đại. Nguồn sáng thường được đặt phía dưới ngàm mẫu và có thể điều chỉnh độ sáng.
Tròng lồng ngắm: Là một tròng kính có đường kính nhỏ được đặt ở đầu thân kính để tập trung ánh sáng và tạo ra hình ảnh phóng đại. Tròng lồng ngắm giúp người sử dụng có thể nhìn vào thân kính một cách dễ dàng và thoải mái.
- Giá đỡ: gồm có ệ, thân, mâm gắn vật kính, bàn để tiêu bản (bàn sa trượt, bàn đỡ mẫu), kẹp tiêu bản.
- Hệ thống phóng đại gồm có
+ Thị kính: bộ phận để mắt và để soi kính, có 2 loại ống đôi và ống đơn.
+ Vật kính: là bộ phậnquay về phía có vật để quan sát. Vật kính có 3 độ phóng đại chính là: x10, x40, x100.
- Hệ thống chiếu sáng:
+ Nguồn sáng (gương hoặc đèn).
+ Màn chắn, được đặt vào trong tụ quang. Nhiệm vụ điều chỉnh lượng ánh sáng đi qua tụ quang.
+ Tụ quang: tập trung những tia ánh sáng và hướng luồng ánh sáng vào tiêu bản. Vị trí của tụ quang nằm ở giữa gương và bàn để tiêu bản. Điều chỉnh độ chiếu sáng ta di chuyển tụ theo chiều lên xuống.
- Hệ thống điều chỉnh: di chuyển các vùng mẫu vật để tìm được đúng vị mẫu cần quan sát.
+ Núm chỉnh tinh (ốc vi cấp).
+ Núm chỉnh thô (ốc vĩ cấp).
+ Núm điều chỉnh tụ quang lên xuống.
+ Núm điều chỉnh độ tập trung ánh sáng của tụ quang.
+ Núm điều chỉnh màn chắn sáng (độ sáng).
+ Núm di chuyển bàn sa trượt (trước, sau, trái, phải).
1. Vật nào sau đây có cấu tạo từ tế bào?
A. Xe ô tô
B. Cây cầu
C Con kiến
D. Cột điện
2. Khi quan sát mẫu vật , tiêu bản được đặt lên bộ phận nào của kính hiển vi?
A. Vật kính
B. Thị kính
C. Bán kính
D. Chân kính
- Bộ phận quang học là: đèn chiếu sáng, vật kính, thị kính và ống kính.
- Bộ phận cơ học là: chân kính, thân kính, công tắc, ốc điều chỉnh nguồn sáng, mâm kính, đĩa quay gắn các vật kính, ốc sơ cấp, ốc vi cấp.
Kính lúp và kinh hiển vi thường được dùng để quan sát những vật thể nhỏ mà mắt thường khó quan sát hoặc không thể quan sát được.
TK:
Kính lúp và kinh hiển vi thường được dùng để quan sát những vật thể nhỏ mà mắt thường khó quan sát hoặc không thể quan sát được.
Muốn quan sát vật bằng kính hiển vi, ta làm theo các bước sau:
1. Cố định tiêu bản lên bàn kính bằng cách dùng kẹp giữ tiêu bản đúng vị trí có ánh sáng chiếu qua.
2. Xoay đĩa gắn vật kính để chọn vật kính phù hợp.
3. Nhìn vào thị kính để quan sát tiêu bản.
4. Xoay núm điều chỉnh để di chuyển bàn kính, đưa tiêu bản vào đúng vị trí cần quan sát.
5. Dùng ốc to (núm chỉnh thô) để đưa tiêu bản lại gần vật kính.
6. Điều chỉnh độ sáng bằng cách xoay gương phản chiếu (hoặc điều chỉnh đèn) sao cho đủ sáng.
7. Tiếp tục xoay ốc to để nâng bàn kính từ từ lên đến khi thấy hình ảnh tiêu bản.
8. Sử dụng ốc nhỏ (núm chỉnh tinh) để điều chỉnh hình ảnh cho thật rõ nét.

Kính hiển vi còn có các bộ phận như thị kính, vật kính, ống kính, mâm kính, bàn kính, kẹp tiêu bản, gương hoặc đèn chiếu sáng, ốc to, ốc nhỏ, tay kính và chân kính, mỗi bộ phận có một chức năng riêng giúp quan sát vật được rõ hơn.