Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
bài văn tái hiện khung cảnh lần đầu đi học của nhân vật tôi cx đồng thời khiển cho người đọc nhớ về ngày đầu tiên đi học của mik một kỉ niệm ko tke quên, kết hợp vs giọng điệu êm dịu, mượt mà, du dương đầy chất thơ dễ dàng đi sau vào trong lòng người đọc
1. ''Người có tính khiêm tốn thường hay tự cho mình là kém, còn phải phấn đấu thêm, trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm nữa. Người có tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn luôn tìm cách để học hỏi thêm nữa.''
2. ''Tóm lại, con người khiêm tốn là con người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ chấp nhận một ý thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người. ''
Tác dụng: Cho thấy những điểm tốt của người khiêm tốn, họ không bao giờ tự kiêu mà luôn cố gắng học hỏi, trau dồi để ngày càng phát triển
3.
Tham khảo nha em:
Nguồn: Hoidap247
Có rất nhiều ý kiến, nhận xét hay về khiêm tốn nhưng có lẽ ý kiến mà tôi tâm đắc nhất có lẽ là "Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thành công trên đường đời". Vậy khiêm tốn, thành công là gì? Khiêm tốn là đức tính nhã nhặn, nhún nhường, không đề cao cái mình có và luôn coi trọng người khác. Thành công là đạt được kết quả như mong muốn, thực hiện được mục tiêu đề ra. Khiêm tốn là điều không thể thiếu giúp con người thành công trong cuộc sống. Trong cuộc sống, con người phải luôn khiêm tốn. Bởi lẽ cá nhân dù có tài năng đến đâu cũng chỉ là những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la. Phải luôn học nữa, học mãi. Hơn nữa, khiêm tốn là phẩm chất quan trọng và cần thiết của con người. Bên cạnh đó, khiêm tốn là biểu hiện của con người đứng đắn, biết nhìn ra trông rộng, được mọi người yêu quý. Chưa dừng lại ở đó, khiêm tốn giúp con người biết mình và hiểu người. Tuy nhiên, khiêm tốn không có nghĩa là mặc cảm, tự ti, thiếu tự tin. Thật vậy, ý kiến trên là hoàn toàn đúng. Mỗi người hãy trân trọng những người khiêm tốn đồng thời phê phán những người thiếu khiêm tốn: luôn tự cao, tự đại, cho mình là nhất mà coi thường người khác. Hãy học lối sống khiêm tốn để ngày càng hoàn thiện mình và không ngừng phấn đấu vươn lên để đạt được thành công trong cuộc sống.
Câu 1:
Người có tính khiêm tốn thường hay tự cho mình là kém, còn phải phấn đấu thêm, trau dồi thêm, cần được trao đổi, học hỏi nhiều thêm nữa. Người có tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại, lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn luôn tìm cách để học hỏi thêm nữa.
Câu 2:
Nghệ thuật điệp ngữ:Người có tính khiêm tốn
Tác dụng:Nhấn mạnh những biểu hiện được nêu là biểu hiện của người có tính khiêm tốn.
Câu 3:
Có rất nhiều ý kiến hay về khiêm tốn nhưng có lẽ ý kiến mà em tâm đắc nhất có thể là "Khiêm tốn là một điều không thể thiếu cho những ai muốn thành công trên đường đời". Vậy, khiêm tốn thành công là gì? Khiêm tốn là đức tính nhã nhặn, nhún nhường và không đề cao cái ta có và luôn tôn trọng người khác. Thành công là khi mình đạt được kết quả như mong muốn, thực hiện được mục tiêu mình đè xuất ra. Khiêm tốn là điều không thể thiếu để giúp con người thành công trong cuộc sống. Trong cuộc sống, con người phải luôn khiêm tốn,nhã nhặn. Bởi lẽ cá nhân và bản thân dù có tài năng đến đâu cũng chỉ là những giọt nước bé nhỏ giữa đại dương bao la. Phải luôn học nữa, học mãi.Như Lê -nin đã nói. Hơn nữa, khiêm tốn là phẩm chất quan trọng và cần thiết của con người trong mỗi chúng ta. Bên cạnh đó, khiêm tốn là biểu hiện của con người đứng đắn, biết nhìn xa trông rộng, và được mọi người yêu quý. Chưa dừng lại ở đó, khiêm tốn giúp con người biết mình,biết ta và hiểu người. Tuy nhiên, khiêm tốn không có nghĩa là mặc cảm, tự ti, thiếu tự tin. Thật vậy, ý kiến trên là hoàn toàn đúng. Mỗi người hãy trân trọng những người khiêm tốn đồng thời phê phán,dư luận của những người thiếu khiêm tốn: luôn tự cao, tự đại, cho mình là nhất mà coi thường người khác. Hãy học lối sống khiêm tốn để ngày càng hoàn thiện mình và không ngừng phấn đấu vươn lên để đạt được thành công trong cuộc sống.
a, Đoạn 1 và 4: cảnh vườn bách thú nơi con hổ bị nhốt và tâm trạng ngao ngán, căm hờn của con hổ.
+ Uất hận khi rơi vào tù hãm.
+ Bị nhốt cùng bọn gấu dở hơi, cặp báo vô tư lự.
+ Khinh loài người nhỏ bé ngạo mạn.
+ Những cảnh sửa sang tầm thường, giả dối.
+ Nhớ về cảnh đại ngàn cao cả, âm u.
→ Căm hờn sự tù túng, khinh ghét kẻ tầm thường. Muốn vượt thoát tù hãm bằng nỗi nhớ thời đại ngàn.
Đoạn 2 và 3 miêu tả vẻ đẹp của núi rừng làm bật lên vẻ oai phong, lẫm liệt của vị chúa tể.
+ Con hổ đầy quyền uy, sức mạnh, tham vọng trước đại ngàn.
+ Nỗi nhớ về thời oanh liệt, huy hoàng.
→ Sự tiếc nuối những ngày huy hoàng trong quá khứ của vị chúa tể.
b, Đoạn 2 và 3: đặc sắc về hình ảnh, từ ngữ, giọng điệu.
- Về từ ngữ:
+ Diễn tả vẻ đẹp, tầm vóc của đại ngàn bằng những từ: bóng cả, cây già, giang sơn.
+ Sử dụng những động từ mạnh thể hiện sự oai hùng của chúa tể: thét, quắc, hét, ghét.
+ Sử dụng từ cảm thán (than ôi), câu hỏi tu từ: gợi nhắc lại quá khứ oai hùng, sự tiếc nuối những ngày tự do.
- Về hình ảnh:
+ Sức mạnh của con hổ được diễn tả bằng hình ảnh: mắt thần đã quắc, lượn tấm thân như sóng cuốn nhịp nhàng, uống ánh trăng tan, ngắm giang sơn, giấc ngủ tưng bừng.
+ Hình ảnh núi rừng từ đêm, mưa,nắng, hoàng hôn, bình minh đẹp lộng lẫy, bí hiểm.
+ Về giọng điệu: đanh thép, hào sảng tái hiện lại thời oanh liệt, tráng ca của chúa sơn lâm khi còn tự do.
c, Sự đối lập sâu sắc cảnh tượng núi rừng với cảnh vườn bách thú.
+ Vườn bách thú tù đọng, chật hẹp, tầm thường, giả dối >< đại ngàn tự do, phóng khoáng, hoành tráng, bí hiểm.
+ Tâm trạng chán chường, căm phẫn, khinh ghét của con hổ ( ở vườn bách thú) >< tâm trạng vui vẻ, sự oai hùng, lẫm liệt của con hổ khi ở đại ngàn.
→ Tâm sự của con hổ ẩn dụ cho tâm trạng của người dân mất nước luôn cảm thấy căm hờn, tủi nhục, chán ngán với hiện tại, họ nhớ tiếc thời oanh liệt, vàng son của cha ông.
Một số ý chính:
- Việc làm thể hiện lòng yêu nước:
+ Học hành chăm chỉ.
+ Xây dựng đức tính tốt cho bản thân.
+ Biết bảo vệ môi trường, yêu thương mọi người xung quanh.
+ Giúp đỡ người khó khăn và khuyên nhủ người tiêu cực.
+ ....
- Bày tỏ sự quan trọng của sự tự do.
- Liên hệ bản thân em.
- Khái quát lại lần nữa việc làm thể hiện lòng yêu nước của mình.
Chị Dậu là một người yêu thương chồng con tha thiết, đảm đang, hiền dịu và tháo vát nhưng có sức sống mạnh mẽ, có tinh thần phản kháng tiềm tàng. Sau khi anh Dậu bị trói và cùm kẹp ở ngoài đình làng, bị bọn người nhà Hào Lí khiêng về. Chị đã nấu cháo, quạt cho nguội cháo rồi đi rón rén, ngồi xem chồng ăn có ngon miệng không. Qua đó, thể hiện chị Dậu là người phụ nữ đảm đang, dịu dàng và tận tụy hết lòng yêu thương chăm sóc chồng. Anh Dậu vừa được cứu, chưa tỉnh lại, bưng bát cháo được đưa lên miệng chưa kịp húp thì bọn cai lệ và người nhà lý trưởng từ ngoài sầm sập xông vào. Lúc đầu chị đã hết sức lễ phép, nhã nhặn vì chị biết chúng là “người nhà nước" còn chồng chị là kẻ cung đinh có tội. Chị "run run" xin khất rồi vẫn tha thiết van nài. Đến lúc cai lệ sầm sập đến chỗ anh Dậu định trói, chị xám mặt chạy đến đỡ tay hắn và năn nỉ "cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc ông tha cho", nhưng đến khi chính mình bị đánh, chị Dậu tức quá không thể chịu được, liều mạng cự lại bằng lí xưng hô ngang hàng, chị đứng lên và nói: "Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ". Cai lệ tát vào mặt chị rồi hắn cứ nhảy vào chói anh Dậu, chị nghiến hai hàm răng: "Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem". Chị đã đứng lên với niềm căm phẫn ngùn ngụt tư thế đứng trên đầu kẻ thù đè bẹp đối phương đấu lực với chúng, bằng tất cả sức mạnh của lòng căm thù tức giận ấy, chị Dậu đã túm lấy cổ tên cai lệ ấn dúi ra cửa, lần lượt, người đàn bà lực điền này đã quật ngã tên cai lệ và người nhà lý trưởng. Trước những hành động hung bạo, độc ác, đểu cáng của bọn hào lý tham lam hống hách chị Dậu đã vùng dậy đứng lên đấu tranh để bảo vệ mạng sống cho chồng. Chị Dậu chính là đại diện tiêu biểu cho tầng lớp phụ nữ nông dân Việt Nam xưa thật giàu sức sống dưới ách áp bức của chế độ nửa thực dân nửa phong kiến khi chưa bắt gặp ánh sáng Đảng.
Con người không hoàn toàn tự do tuyệt đối mà sống trong sự tương tác giữa ý chí cá nhân và ràng buộc hoàn cảnh. Hoàn cảnh (xã hội, môi trường, di truyền) định hình lựa chọn, nhưng con người vẫn giữ khả năng tự do tư tưởng và ra quyết định bên trong để phản ứng lại hoàn cảnh, thể hiện qua việc tự định nghĩa giá trị cuộc sống. Dưới đây là các góc nhìn chi tiết về vấn đề này: Ràng buộc của hoàn cảnh (Sự không tự do): Con người bị giới hạn bởi các yếu tố tự nhiên, xã hội, di truyền và hoàn cảnh sống. Chúng ta không thể chọn nơi mình sinh ra, không thể thoát khỏi các quy luật tự nhiên, và thường xuyên đưa ra quyết định dựa trên áp lực, nỗi sợ hoặc kỳ vọng của người khác. Tự do ý chí (Sự tự do bên trong): Theo các nhà tâm lý học và triết học, tự do thực sự nằm ở tâm hồn – khả năng lựa chọn thái độ, tư duy và cách nhìn nhận trước mọi biến cố. Dù hoàn cảnh có khắc nghiệt đến đâu, con người vẫn có quyền lựa chọn cách đối mặt. Sự giao thoa: Con người vừa làm theo hoàn cảnh để thích nghi, vừa sử dụng sự tự do để thay đổi hoàn cảnh. Tự do thực sự không phải là làm bất cứ điều gì mình thích, mà là sự làm chủ bản thân, làm chủ suy nghĩ và hành động có ý thức.
Tóm lại, tự do là quá trình đấu tranh và lựa chọn bên trong, giúp con người không chỉ đơn thuần tồn tại mà là sống có ý nghĩa trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Con người có tự do, nhưng không phải là tự do tuyệt đối. Ta không được chọn nơi mình sinh ra, gia đình, hoàn cảnh, thời đại, hay nhiều biến cố xảy đến với mình. Những điều đó tạo thành giới hạn và ảnh hưởng rất lớn đến suy nghĩ, tính cách, lựa chọn của mỗi người. Vì thế, con người đúng là bị hoàn cảnh chi phối. Nhưng con người không hoàn toàn chỉ “làm theo hoàn cảnh”. Trong cùng một hoàn cảnh, mỗi người vẫn có thể chọn cách phản ứng khác nhau: chấp nhận hay chống lại, bỏ cuộc hay cố gắng, sống ích kỉ hay sống tử tế. Chính khả năng lựa chọn thái độ và hành động ấy là phần tự do của con người.