Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Dế Mèn là một anh chàng hiệp sĩ dũng cảm nhất trong các chuyện cổ tích động vật.Dế Mèn đã giúp đỡ rất nhiều những kẻ yếu như chị Nhà Trò.Hơn nữa Dế Mèn còn rất thông minh làm cho bọn nhên phải phá hết tơ quanh đường để làm cho lối đi về nhà của chị Nhà Trò quang hẳn ra.Dế mèn còn có một dõng nói rất giõng dạc nữa.Tác giả Tô Hoài đẫ biến hóa nhân vật này thành một nhân vật dũng cảm,hào hiệp nhất trong chuyện.Nhân vật Dế Mèn còn biết rút ra bài học cho mình,để bênh vực những người nhỏ bé yếu ớt hơn mình.Và dế Mèn con biết sửa lỗi sai cho bọn nhện.Bắt bọn chúng không được bắt nạt chị Nhà Trò nữa.Qủa là một tấm long nghĩa hiệp !.Em rất thích nhân vật này và em sẽ luôn giupos các bạn trong lớp mình như vậy.
Học tốt nha !
Nguyễn Ngọc Phương Linh ơi!
Đây là văn bản lớp 6 nhé,chứ không phải là bài tập đọc lớp 3 đâu.
Điệp cuối đầu ở các câu thơ 4,5 , điệp ngắt quãng ở câu thơ 6 có tác dụng gợi tả tuyệt vời : Trong buổi trưa hè oi ả ngột ngạt ấy tất cả đều chìm đi chỉ lời ru của mẹ cứ lúc bổng lúc trầm , hình ảnh mẹ lớn lao hơn cả cái không gian rộng lớn kia. Hình ảnh ẩn dụ : gió mùa thu , bàn tay mẹ được lồng sử dụng thật tài tình khéo léo đúng lúc .ta tưởng tượng mẹ không phải quạt cho con ngủ bằng tay mà là bằng lòng mẹ , không chỉ ru con bằng lời mà ru con bằng tấm lòng yêu con của mẹ .Sức mạnh của tình yêu con dồn trong lời hát ru , lên đôi tay mẹ quạt trỏ thành ngọn gió thu mát mẻ xua đi cái nóng hè oi ả cho giấc ngủ của con .
Đi suốt cuộc đời, đôi khi được lắng nghe những giai điệu mộc mạc qua câu hát ru của người mẹ ta bỗng thấy như sợi dây cuộc sống cũng phải chùng lại, bật lên một tiếng trầm trong bản hòa tấu phức hợp của cuộc sống. Nó cho ta phút nhớ tới mẹ, nhớ tới những ước mơ thành hình không chỉ bằng hơi thở cuộc sống mà bằng cả tâm hồn dịu dàng mẹ dành trọn cho con.
Bền bỉ cùng thời gian,hơn cả thời gian và không gian chính là lòng mẹ yêu con.Biết bao trưa nư thế mẹ ngồi đưa võng quạt ru con ngủ.Có ai đếm được chăng?Vậy mà mẹ chẳng hề mệt mỏi mỗi khi đêm về lại thức trông giấc ngủ cho con:
Những ngoi sao thức ngoài kia
chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngon gió của con suốt đời.
Phép nhân hoá ngôi sao-"thức" làm cho hình ảnh thơ trở nên đẹp lung linh,phép so sánh ko ngang bằng đã nâng hình ảnh bà mẹ tảo tần khuya sớm lam lũ lên thật cao quý đẹp đẽ hơn cả những vì tinh tuý,và cũng bất tử .Cách nói ẩn dụ "giấc tròn" ko phải chỉ là giấc ngủ của con ,cuộc đời con luôn có mẹ theo sát bên nâng bước con đi,che chở cho con,dành tất thảy yêu thương.Lòng mẹ thật bao la,tình mẹ thật rộng lớn...
Ko có những lời thơ nhẹ nhàng và sâu lắng như "Mẹ" chắc hẳn lời ru dần mai một cho đến một ngày người ta chỉ còn nghe thấy nó trong viện bảo tàng những lớp kỷ niệm của những người đi trước.Nếu nghe bản nhạc này vào 1 trưa hè oi bức,trên tay phe phẩy quạt nan và thiu thiu bên hiên nhà trên chiếc võng nhỏ,ta sẽ bé lại,chỉ 1 lúc thôi,để thấy cuộc sống này đậm chất sử thi về tình mẹ,về 1 cuộc sống ấm êm ta lớn lên bằng lời ru...
Hơn 1 lần nhình lại,ai cũng có 1 người mẹ,và mẹ tôi chỉ có 1 trên đời...
..."Mẹ đã nâng con dậy"...
Câu 2: Bài thơ viết về điều gì?
A. Gió mùa thu
B. Đêm trăng rằm mùa thu
C. Cánh đồng lúa mùa thu
D. Mẹ ru con trong đêm mùa thu
Câu 3: Khổ thơ thứ (1) gieo vần ở những tiếng nào?
A. rằm – trăng – bằng ; ngời – ơi
B. ngời – ơi – lời ; trăng – bằng
C. trăng – hát – bằng ; ơi – lời
D. rằm – ngời – ơi ; trăng – bằng
Câu 1:
- Phong cách ngôn ngữ: Nghệ thuật
Câu 2:
- Nội dung chính của đoạn thơ: Từ hình ảnh cây tre Việt Nam, tác giả thể hiện những vẻ đẹp trong tính cách, phẩm chất của con người Việt Nam.
Câu 3:
- Biện pháp tu từ chủ yếu được sử dụng ở trong đoạn thơ: nhân hóa, so sánh
- Tác dụng:
+ Giúp câu thơ thêm sinh động, gợi hình, gợi tả, gợi cảm
+ Sự vật trở nên có hồn hơn, mang sắc thái, dáng vóc của con người.
+ Qua việc khắc họa hình ảnh cây tre, tác giả đã bộc lộ, đặc tả những phẩm chất vốn có của con người Việt Nam.
Câu 4:
Hình tượng cây tre trong hai câu thơ đã thể hiện, khắc họa hình ảnh người mẹ tần tảo, chịu thương chịu khó vì con. Đây cũng chính là điểm độc đáo đồng thời cũng chính là sự sáng tạo của nhà thơ. Mượn hình ảnh cây tre cùng thủ pháp nhân hóa, tác giả không chỉ khiến cây tre trở nên có hồn hơn, mang sắc thái như con người vừa ẩn hiện lấp ló đằng sau hình ảnh cây tre ấy chính là hình ảnh người mẹ lam lũ, chịu thương chịu khó, dãi dầm mưa nắm. Không quản ngại khó khăn để kiếm miếng cơm manh áo nuôi con. Qua đó, tác giả cũng thể hiện tình yêu bao la đối với những người mẹ Việt Nam anh hùng.
bạn ơi bài này chìu này mik vừa học xog nhưng câu 4 bn tự nghĩ nhé
câu 1: PTBĐ chính trong đoạn thơ trên là biểu cảm
câu 2: nội dung chính của đoạn thơ trên là nói lên phẩm chất tốt đẹp của cây tre
câu 3: 2 biện pháp tu từ tác giả sử dụng chủ yếu trog đoạn thơ trên là nhân hóa và ẩn dụ
Ta là Mị Nương, con gái vua Hùng Vương thứ mười tám. mọi người đều khen ta là một công chúa xinh đẹp, dịu hiền. Vua cha rất yêu thương ta, cưng chiều ta hết mực. Khi ta đến tuổi thành hôn, vua cha lo lắng, băn khoăn, muốn kiếm cho ta một người chồng thật xứng đáng.
Vào một buổi sáng mùa hè đẹp trời, khi ta đang đi dạo trong vườn thượng uyển thì nghe tin vua cha báo có hai chàng trai đến cầu hôn. Ta vội vã trở về điện chính thì thấy hai người con trai khôi ngô, yuấn tú, khỏe mạnh, cường tránh đang quỳ dưới sân rồng.
Qua những lời cha hỏi, ta biết một chàng là Thần Núi, một là Thần Nước. Thần Núi trông thật hiền hậu, có tài vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi.
Chàng có tên là Sơn Tinh. Còn chàng trai kia có tên là Thủy Tinh cũng có tài không kém: gọi gió, gió đến, hô mua, mua về. Tuy Thủy Tinh cũng là thần nhưng ta trông có vẻ dữ tợn hơn Sơn Tinh thì phải.
Tình cảm của ta có phần dành cho Sơn Tinh nhưng không biết ý vua cha ra sao. Cha ta chắc cũng rất băn khoăn trước hai chàng trai tài giỏi nên gọi các Lạc hầu vào bàn bạc. Ta không được tham dự nên không biết cuộc họp bàn nhưe tế nào. Chỉ biết sau khi họp xong, cha ta phán:
– Cả hai chàng đều vừa ý ta, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào? Thôi thì ngày mai, ai đem sính lễ đến trước, ta sẽ cho cưới con gái ta.
Sơn Tinh và Thủy Tinh tâu hỏi lễ vật gồm những thứ gì. Lúc đó, ta cũng rất hồi hộp, không hiểu lễ vật có khó tìm không. Vua cha bảo:
– Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.
Hai chàng lĩnh ý và xin lui. Trước khi từ biệt, ta thấy cả hai đều quay lại nhìn ta với ánh mắt thật tha thiết.
Cả đêm đó hầu như ta không ngủ, không hiểu ai sẽ là người đến trước, ai sẽ là chồng của ta. Nếu được là Sơn Tinh thì ta thấy vừa ý hơn vì trông Thủy Tinh thực sự hơi lạnh lùng.
Tờ mờ sáng hôm sau, đúng như mong ước của ta, Sơn Tinh đã mang lễ vật đến trước và được lấy ta làm vợ. Lễ rước dâu diễn ra ngay sau đó. Ta từ biệt vua cha và theo chàng về núi. Ngồi trên kiệu hoa, ta cảm thấy thật hạnh phúc vì lấy được người chồng ưng ý.
Đang trên đường về núi Tản Viên, ta bổng nghe thấy tiếng hô hoán ầm ầm ở đằng sau, rồi nước ở đâu chảy ra ào ào, ngập hết cả nhà cửa. Ngoảnh lại phía sau, ta thấy Thủy Tinh hùng hổ dẫn theo đoàn Thủy quái, lớn tiếng đòi Sơn Tinh trả lại ta. Thật là vô lý. Đã đến sau lại còn gây sự là sao? Ta hốt hoảng đưa mắt nhìn Sơn Tinh. Chàng âu yếm nói ta hãy yên tâm, rồi chàng đưa ta lên đỉnh núi, sau đó quay lại giao đấu với Thủy Tinh.
Ở trên núi Tản, ta thấy cuộc giao chiến diễn ra thật kinh khủng. Thủy Tinh hô mưa, gọi gió, làm trời giông bão, làm rung chuyển cả đất trời. Nước ngập lênh láng khắp nơi, Thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước.
Chồng ta quả là một người có tài sức hơn người. Chàng không hề nao núng, chàng bốc đồi, dời núi để ngăn dòng nước lũ. Nước dâng bao nhiêu, đồi núi cao bấy nhiêu. cuộc chiến kéo dài mấy tháng liền, cuối cùng sức suy kiệt, Thủy Tinh đành phải rút quân về.
Ta được sống cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc với Sơn Tinh cho đến ngày nay. Tuy nhiên, năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước, đưa quân đến phá . Nhưng với tài năng của mình, lần nào Sơn Tinh cũng thắng, Thủy Tinh đành phải lui quân về.
Nguồn : Văn mẫu lớp 6: Đóng vai Mị Nương kể lại truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh - Văn mẫu kể chuyện lớp 6 - VnDoc.com
Ta là Mị Nương, con gái vua Hùng Vương thứ mười tám. mọi người đều khen ta là một công chúa xinh đẹp, dịu hiền. Vua cha rất yêu thương ta, cưng chiều ta hết mực. Khi ta đến tuổi thành hôn, vua cha lo lắng, băn khoăn, muốn kiếm cho ta một người chồng thật xứng đáng.
Vào một buổi sáng mùa hè đẹp trời, khi ta đang đi dạo trong vườn thượng uyển thì nghe tin vua cha báo có hai chàng trai đến cầu hôn. Ta vội vã trở về điện chính thì thấy hai người con trai khôi ngô, yuấn tú, khỏe mạnh, cường tránh đang quỳ dưới sân rồng.
Qua những lời cha hỏi, ta biết một chàng là Thần Núi, một là Thần Nước. Thần Núi trông thật hiền hậu, có tài vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi.
Chàng có tên là Sơn Tinh. Còn chàng trai kia có tên là Thủy Tinh cũng có tài không kém: gọi gió, gió đến, hô mua, mua về. Tuy Thủy Tinh cũng là thần nhưng ta trông có vẻ dữ tợn hơn Sơn Tinh thì phải.
Tình cảm của ta có phần dành cho Sơn Tinh nhưng không biết ý vua cha ra sao. Cha ta chắc cũng rất băn khoăn trước hai chàng trai tài giỏi nên gọi các Lạc hầu vào bàn bạc. Ta không được tham dự nên không biết cuộc họp bàn nhưe tế nào. Chỉ biết sau khi họp xong, cha ta phán:
– Cả hai chàng đều vừa ý ta, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào? Thôi thì ngày mai, ai đem sính lễ đến trước, ta sẽ cho cưới con gái ta.
Sơn Tinh và Thủy Tinh tâu hỏi lễ vật gồm những thứ gì. Lúc đó, ta cũng rất hồi hộp, không hiểu lễ vật có khó tìm không. Vua cha bảo:
– Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.
Hai chàng lĩnh ý và xin lui. Trước khi từ biệt, ta thấy cả hai đều quay lại nhìn ta với ánh mắt thật tha thiết.
Cả đêm đó hầu như ta không ngủ, không hiểu ai sẽ là người đến trước, ai sẽ là chồng của ta. Nếu được là Sơn Tinh thì ta thấy vừa ý hơn vì trông Thủy Tinh thực sự hơi lạnh lùng.
Tờ mờ sáng hôm sau, đúng như mong ước của ta, Sơn Tinh đã mang lễ vật đến trước và được lấy ta làm vợ. Lễ rước dâu diễn ra ngay sau đó. Ta từ biệt vua cha và theo chàng về núi. Ngồi trên kiệu hoa, ta cảm thấy thật hạnh phúc vì lấy được người chồng ưng ý.
Đang trên đường về núi Tản Viên, ta bổng nghe thấy tiếng hô hoán ầm ầm ở đằng sau, rồi nước ở đâu chảy ra ào ào, ngập hết cả nhà cửa. Ngoảnh lại phía sau, ta thấy Thủy Tinh hùng hổ dẫn theo đoàn Thủy quái, lớn tiếng đòi Sơn Tinh trả lại ta. Thật là vô lý. Đã đến sau lại còn gây sự là sao? Ta hốt hoảng đưa mắt nhìn Sơn Tinh. Chàng âu yếm nói ta hãy yên tâm, rồi chàng đưa ta lên đỉnh núi, sau đó quay lại giao đấu với Thủy Tinh.
Ở trên núi Tản, ta thấy cuộc giao chiến diễn ra thật kinh khủng. Thủy Tinh hô mưa, gọi gió, làm trời giông bão, làm rung chuyển cả đất trời. Nước ngập lênh láng khắp nơi, Thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước.
chồng ta quả là một người có tài sức hơn người. Chàng không hề nao núng, chàng bốc đồi, dời núi để ngăn dòng nước lũ. Nước dâng bao nhiêu, đồi núi cao bấy nhiêu. cuộc chiến kéo dài mấy tháng liền, cuối cùng sức suy kiệt, Thủy Tinh đành phải rút quân về.
Ta được sống cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc với Sơn Tinh cho đến ngày nay. Tuy nhiên, năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước, đưa quân đến phá . Nhưng với tài năng của mình, lần nào Sơn Tinh cũng thắng, Thủy Tinh đành phải lui quân về.
TL :
Phép so sánh:
+) Những ngôi sao thức - mẹ thức:Những ngôi sao thức suốt đêm nhưng cũng không bằng mẹ đã thức vì cả cuộc đời của con, sự hi sinh thầm lặng.
+) Mẹ - ngọn gió:Mẹ là nơi mát mẻ, yên bình của con suốt đời.
* Tác giả sử dụng biện pháp so sánh để thể hiện tấm lòng yêu thương, sự hi sinh thầm lặng của người mẹ đối với người con và lòng biết ơn của con dành cho mẹ.
3. Câu thơ sau gợi cho em nhớ tới câu tục ngữ nào?
“Ở hiền thì lại gặp hiền
Người ngay thì được phật, tiên độ trì”
A. Ở hiền gặp lành
B. Trâu buộc ghét trâu ăn
C. Lá lành đùm lá rách
D. Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng
C5 k bt
C5 khó lém
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm.
Câu 3.
– Em xác định được một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ: Liệt kê (lu nước, bờ ao, vườn ổi), điệp từ (thăm).
– Em phân tích được tác dụng của một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ:
+ Liệt kê: Khắc họa chi tiết, sinh động những sự vật mà người bà quan tâm.
+ Điệp từ: Góp phần làm tăng thêm tính nhạc cho bài thơ, thể hiện sự quan tâm, săn sóc của người bà dành cho những sự vật trong ngôi nhà.
Câu 4.
– Cảm nhận, suy nghĩ về hai dòng thơ. Người bà dù đã ra đi mãi mãi, dù đang ở nơi xa nhưng bà vẫn sẽ luôn có cách ở bên cháu. Điều này cho thấy tình yêu, sự quan tâm mà bà dành cho cháu cũng như tình yêu, lòng biết ơn mà cháu dành người bà thân yêu của mình.
Câu 5.
– Em rút ra được bài học cho bản thân.
+ Biết yêu thương, quan tâm bà hơn.
+ Cần dành nhiều thời gian bên bà hơn.
Câu 6.
– Em bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc của mình về nội dung của bài thơ, sau đây là một số gợi ý:
+ Bài thơ là sự chiêm nghiệm của người cháu về người bà dấu yêu:
++ Người cháu có một giấc mơ đẹp về bà: Trong giấc mơ bà hiện lên với những hành động gắn với những sự vật nhỏ bé, thân thuộc, bình dị trong cuộc sống hàng ngày. Bởi vì có bà gian bếp mới lại trở nên ấm áp, lại nồng khói bay.
++ Bên cạnh việc thăm nom những sự vật thân thuộc, bà còn dặn dò cháu một cách rất dịu dàng và đầy yêu thương: ngoại về nắm lấy bàn tay/ dặn tôi ở thế giới này phải ngoan…
++ Dù bà đã đi xa nhưng bà vẫn sẽ luôn ở cạnh bên cháu: “từ nơi được gọi Thiên Đàng/ ngoại luôn có cách dịu dàng bên con.”
=> Bài thơ thể hiện nỗi nhớ và tình yêu mà người cháu dành cho bà. Trong giấc mơ, nỗi nhớ của cháu, người bà hiện lên một cách dịu dàng và đầy yêu thương dành cho cháu.
1. Xác định thể thơ của văn bản. Thể thơ: Lục bát
2. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính trong văn bản. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm. Văn bản bộc lộ trực tiếp những cảm xúc, tình cảm nhớ thương, biết ơn sâu sắc của người cháu dành cho người ngoại đã khuất, thông qua các hình ảnh ký ức tuổi thơ.
3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong hai dòng thơ sau: ngoại thăm lu nước, bờ ao/ thăm vườn ối đã cây nào ra bông. Biện pháp tu từ: Điệp ngữ (điệp từ "ngoại thăm"). Tác dụng: Nhấn mạnh hành động và sự quan tâm chu đáo của người ngoại đối với mọi vật thân thuộc trong gia đình, từ những điều nhỏ nhặt nhất như "lu nước, bờ ao" đến "vườn ối". Tô đậm hình ảnh người ngoại tần tảo, gắn bó với cuộc sống đời thường, đồng thời thể hiện nỗi nhớ da diết và sự hiện diện sống động của ngoại trong tâm trí người cháu, dù ngoại đã không còn ở bên cạnh. 4. Em hiểu như thế nào về hai dòng thơ: "từ nơi được gọi Thiên Đàng/ ngoại luôn có cách dịu dàng bên con." Hai dòng thơ mang ý nghĩa sâu sắc về sự hiện diện tinh thần vĩnh cửu của người ngoại. "Thiên Đàng" chỉ nơi ngoại đang yên nghỉ sau khi mất, nhưng tình yêu thương của ngoại thì không mất đi. Ngoại vẫn luôn dõi theo, che chở và truyền sức mạnh một cách "dịu dàng" cho người cháu từ một thế giới khác, giúp người cháu cảm thấy bình yên và được vỗ về giữa cuộc sống. 5. Qua bài thơ, em rút ra được bài học gì? Qua bài thơ, chúng ta có thể rút ra được bài học quý giá về tình thân gia đình, đặc biệt là tình cảm giữa người cháu và người ngoại. Bài học nhắc nhở mỗi người cần biết trân trọng những giây phút được ở bên cạnh người thân khi họ còn sống, và luôn khắc ghi tình yêu thương, lòng biết ơn đối với những người đã khuất, bởi họ vẫn luôn sống mãi trong ký ức và trái tim ta. 6. Hãy chia sẻ cảm nhận, suy nghĩ của em về nội dung của bài thơ trên bằng một đoạn văn ngắn (khoảng 5-7 dòng). Đoạn trích "Thưa ngoại con mới về" chạm đến trái tim người đọc bởi sự chân thành và giản dị trong việc thể hiện nỗi nhớ thương vô hạn dành cho người ngoại. Tác giả Lam đã tái hiện thành công hình ảnh người bà tần tảo, ấm áp qua những chi tiết quen thuộc của cuộc sống làng quê Việt Nam như "trồng ngọn rau", "lu nước, bờ ao", "chái bếp". Thông qua giấc mơ, ngoại không chỉ hiện về mà còn gửi gắm lời dặn dò "phải ngoan", thể hiện sự quan tâm, lo lắng ngay cả khi đã ở "Thiên Đàng". Bài thơ là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng về tình thân thiêng liêng, là điểm tựa tinh thần vững chắc giúp mỗi người vượt qua những lo toan, vất vả trong cuộc sống hiện tại.
Tvcx
1 Bài thơ trên được viết theo thể thơ lục bát
Ko
Câu 1 Thể thơ lục bát
câu 1: thể thơ trong văn bản là thơ lục bát
câu 2: tự xử
Bài thơ gợi cho em cảm xúc, sự ấm áp về tình cảm của người bà danh cho cháu.Hinh ảnh bờ ao,khu vườn gắn liền với bà ngoại đã khắc sâu trong ký ức của người cháu.Tin
Câu 1:
Thể thơ của văn bản là lục bát
Thơ lục bát
Tự sự
Không biết
Không biết
BÀI LÀM Câu 1. Thể thơ của văn bản là thơ tự do. Câu 2. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là biểu cảm. Câu 3. Hai dòng thơ sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá. Tác dụng: làm nổi bật hình ảnh người ngoại cần cù, gắn bó với thiên nhiên, qua đó thể hiện tình yêu thương và sự kính trọng của tác giả đối với ngoại. Câu 4. Hai dòng thơ cho thấy dù ở nơi xa hay đã khuất, ngoại vẫn luôn yêu thương, chở che và dịu dàng bên con cháu. Câu 5. Qua bài thơ, em rút ra bài học: cần biết yêu thương, kính trọng và trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là đối với ông bà. Câu 6. Bài thơ Thưa ngoại con mới về gợi cho em nhiều cảm xúc xúc động. Hình ảnh người ngoại hiện lên giản dị, hiền hậu và giàu yêu thương. Dù ngoại không còn bên cạnh, tình cảm của ngoại vẫn luôn hiện hữu trong tâm hồn con cháu. Bài thơ giúp em thêm yêu và trân trọng những người thân trong gia đình mình.
Câu 1. Số tiếng: Các câu thơ chủ yếu là 6 chữ và 8 chữ, đúng với khuôn khổ cơ bản của thơ lục bát (ví dụ: “đêm qua trong giấc mơ hồng” - 6 chữ; “tôi mơ thấy ngoại về trồng ngọn rau” - 8 chữ).Vần điệu: Có sự gieo vần chân (vần lưng) theo quy luật lục bát (ví dụ: “hồng” - “trồng”; “ao” - nào”; “bay” - “tay”). Tuy nhiên, số chữ trong mỗi dòng không hoàn toàn tuân thủ nghiêm ngặt nhịp điệu truyền thống (ví dụ: câu “ở trong chái bếp lại nồng khói bay” là 8 chữ nhưng nhịp điệu có thể linh hoạt hơn).
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính trong văn bản là Tự sự kết hợp với Biểu cảm.
- Tự sự (Kể chuyện): Bài thơ kể lại một chuỗi sự việc diễn ra trong giấc mơ của nhân vật trữ tình (người cháu) về việc người ngoại (bà) từ “Thiên Đàng” trở về thăm.
- Biểu cảm (Bộc lộ tình cảm): Xuyên suốt bài thơ là dòng cảm xúc nhớ thương, yêu kính, ấm áp mà người cháu dành cho người ngoại, đặc biệt là qua lời dặn dò và sự hiện diện dịu dàng của ngoại.
Câu 3. là ngoại thăm lu nước, bờ ao/ thăm vườn ổi đã cây nào ra bông.Biện pháp tu từ nổi bật trong hai câu này là liệt kê và nhân hóa (ngầm).
Câu 4.
“Từ nơi được gọi Thiên Đàng/ ngoại luôn có cách dịu dàng bên con.Hai dòng thơ này thể hiện một niềm tin rất đẹp và sâu sắc của người cháu về thế giới tâm linh, về tình yêu thương vĩnh cửu: 1. Thiên Đàng không phải là nơi chia cắt: Dù ngoại đã về “Thiên Đàng” (nơi được cho là chốn vĩnh hằng, xa cách), tình cảm thương yêu không hề bị ngăn cách bởi không gian hay ranh giới sinh tử.
2. Tình yêu thương vượt lên trên cõi giới: “Cách dịu dàng bên con” ám chỉ rằng tình cảm của người ngoại vẫn luôn hiện diện, dõi theo, bảo bọc người cháu bằng sự quan tâm, che chở vô hình, thông qua những giấc mơ, những kỷ niệm hay sự thôi thúc từ nội tâm. 3. Niềm an ủi tinh thần: Đối với người cháu, sự hiện diện dịu dàng này là nguồn động viên lớn lao, giúp người cháu vượt qua khó khăn (“thế giới này phải ngoan…”) và cảm thấy không cô đơn.
Câu 5.Qua bài thơ, em rút ra được bài học về giá trị của tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cảm với người đã khuất, và sự trân trọng hiện tại:
- Tình yêu thương là vĩnh cửu: Tình cảm gia đình, nhất là tình thương của ông bà/ngoại dành cho con cháu, là điều không thể bị thời gian hay cái chết chia lìa. Nó luôn dõi theo và là điểm tựa tinh thần cho chúng ta.
- Sống tốt và trân trọng: Lời dặn “ở thế giới này phải ngoan” nhắc nhở chúng ta cần sống có trách nhiệm, ngoan ngoãn, trân trọng những gì mình đang có, vì đó là cách tốt nhất để đáp lại tình yêu thương của những người thương yêu mình.
Câu 6. Bài thơ “Thưa ngoại con mới về” của Lam đã khơi gợi trong em những rung cảm thật đỗi xúc động và ấm áp về tình cảm gia đình. Giấc mơ về người ngoại từ “Thiên Đàng” trở về thăm cháu, thăm những hình ảnh rất đỗi thân quen như lu nước, vườn ổi, không chỉ là một giấc mơ đẹp mà còn là sự hiện diện của tình thương yêu vượt qua mọi ranh giới. Hai câu thơ cuối như một lời khẳng định: dù ở nơi đâu, tình yêu thương chân thành vẫn luôn là sợi dây vô hình kết nối. Bài thơ nhắc nhở em phải sống ngoan ngoãn, tốt đẹp hơn để không phụ lòng mong mỏi của những người thân yêu thương mình nhất. Đó là một bài học sâu sắc về sự tri ân và lòng biết ơn.
Câu 1:
Đây là thể thơ lục bát.
Câu 2:
PTBĐC là: biểu cảm
Câu 3:
Đây là biện pháp tu từ điệp ngữ.
Tác dụng: tạo nhịp điệu cho câu thơ nhấn mạnh hành động và sự hiện diện của ngoại trong tâm trí người cháu. Thể hiện sự quan tâm,chăm sóc quen thuộc, bình dị của ngoại với vật dụng cảnh vật thân thuộc trong gia đình.
Câu 4:
Hai dòng thơ thể hiện niềm tin,sự an ủi và tình cảm thiêng liêng.
Câu 5:
Qua bài thơ em rút ra được bài học là cần phải biết trân trọng những giây phút được ở bên người thân khi còn sống, giữ gìn những kỷ niệm đẹp về họ. Tình cảm gia đình là vĩnh cửu, dù người thân đã mất thì tình yêu thương vẫn còn mãi.
Câu 6:
Bài thơ "Thưa ngoại con mới về" của Lam chạm đến trái tim người đọc bởi tình cảm chân thành, sâu lắng của người cháu dành cho bà ngoại đã khuất. Thông qua giấc mơ, hình bóng ngoại hiện lên thật bình dị, gần gũi với những hành động quen thuộc như trồng rau, thăm lu nước, bờ ao. Nỗi nhớ của người cháu không chỉ là sự tiếc nuối mà còn là niềm tin mãnh liệt rằng tình thương yêu của ngoại. Bài thơ nhắc nhở chúng ta trân trọng tình cảm gia đình và giữ những ký ức đẹp về người thân.
khi thaybviUIughbsuhj
Câu 1: Thể thơ của văn bản là thể thơ tự do. Câu 2: Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm. Câu 3: Phân tích tác dụng biện pháp tu từ trong hai dòng thơ:
"ngoại thăm lu nước, bờ ao thăm vườn ổi đã cây nào ra bông"
Câu 4: Cách hiểu về hai dòng thơ:
"từ nơi được gọi Thiên Đàng ngoại luôn có cách dịu dàng bên con"
Câu 5: Bài học rút ra: Phải biết yêu thương, trân trọng người thân khi họ còn bên cạnh và luôn khắc ghi những đức tính tốt đẹp, tình cảm của cha ông để sống tốt hơn.
Câu 6 (Đoạn văn cảm nhận): Bài thơ "Thưa ngoại con mới về" là một dòng hồi tưởng đầy xúc động về người bà kính yêu. Qua giấc mơ, tác giả đã tái hiện hình ảnh bà với những cử chỉ chăm sóc thân thuộc như thăm lu nước, vườn ổi, hay nhóm lại ngọn lửa hồng trong bếp. Những hình ảnh ấy không chỉ gợi lên sự tần tảo của bà mà còn là biểu tượng của hơi ấm gia đình. Lời dặn dò "phải ngoan" của ngoại ở cuối bài chính là hành trang tinh thần vô giá cho cháu. Dù ngoại đã đi xa về nơi "Thiên Đàng", nhưng tình cảm dịu dàng ấy vẫn luôn là điểm tựa vững chắc nhất cho tâm hồn mỗi người con, người cháu.
,,
1- thể thơ lục ba
Câu 1
thơ lục bát Thể thơ của văn bản là thơ lục bát, dấu hiệu nhận biết là sự luân phiên của các dòng thơ sáu chữ và tám chữ.
Câu 2
biểu cảm Phương thức biểu đạt chính trong văn bản là biểu cảm, nhằm bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người cháu đối với người bà đã khuất.
Câu 3
biện pháp tu từ nhân hóa Trong hai dòng thơ "ngoại thăm lu nước, bờ ao/ thăm vườn ổi đã cây nào ra bông", tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa (qua hành động "thăm" của ngoại và "ngỡ ngàng" của sự vật trong các khổ thơ khác). Tác dụng: Thể hiện sự gắn bó sâu sắc của ngoại với những vật dụng, cảnh vật đời thường trong gia đình. Diễn tả nỗi nhớ thương da diết của người cháu, cảm giác như ngoại vẫn còn hiện hữu, chăm sóc mọi thứ. Tạo nên hình ảnh thơ gần gũi, ấm áp và giàu sức gợi cảm.
Câu 4
nghĩa của hai dòng thơ Hai dòng thơ "từ nơi được gọi Thiên Đàng/ ngoại luôn có cách dịu dàng bên con" thể hiện: Niềm tin của người cháu rằng ngoại đã về thế giới bên kia (Thiên Đàng). Tình cảm sâu đậm, sự hiện diện tinh thần vĩnh cửu của ngoại trong tâm trí người cháu. Dù không còn sống bên cạnh, ngoại vẫn dõi theo, che chở và là điểm tựa tinh thần dịu dàng cho con (người cháu).
Câu 5
bài học về tình thân Qua bài thơ, em rút ra được bài học về sự trân trọng tình cảm gia đình, đặc biệt là tình bà cháu. Chúng ta cần biết ơn, yêu thương và dành thời gian cho những người thân yêu khi họ còn sống.
Câu 6
cảm nhận về bài thơ Bài thơ "Thưa ngoại con mới về" là một tác phẩm đầy xúc động về tình bà cháu. Tác giả đã sử dụng thể thơ lục bát truyền thống cùng những hình ảnh mộc mạc, giản dị để bộc lộ nỗi nhớ thương da diết dành cho người bà đã khuất. Bài thơ không chỉ là lời tự sự của người cháu khi trở về thăm nhà mà còn là sự thức tỉnh về giá trị của tình thân. Nó nhắc nhở mỗi người hãy biết trân trọng những khoảnh khắc bên gia đình, bởi khi mất đi rồi, những ký ức đẹp đẽ ấy sẽ trở thành niềm an ủi, vỗ về tâm hồn.
Thơ lục bát
Vvkwrjk